Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 413/2024/DS-PT

Ngày 06/8/2024

V/v tranh chấp thừa kế tài sản và hủy

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyển;

Các Thẩm phán: Ông Hồ Sỹ Hưng;

Ông Phạm Việt Hà.

- Thư ký phiên toà: Bà Triệu Hương Thùy - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thúy - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Điểm cầu Trung tâm: Phòng xét xử trực tuyến – Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội; Điểm cầu Thành phần: Phòng xét xử trực tuyến – Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 184/2023/TLPT-DS ngày 12 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 33/2022/DS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 8001/2024/QĐ-PT, ngày 23 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị P; sinh năm 1960; nơi cư trú: Đ, thôn T, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1973; địa chỉ: Số A L, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

2. Bị đơn: Bà Vũ Thị H1, sinh năm 1962; nơi cư trú: Đ, thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Bùi K, sinh năm 1964, địa chỉ: Thôn B, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Bùi Thị N, sinh năm 1963; nơi cư trú: Đ, thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; Có mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1966; nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
  3. Bà Bùi Thị Q, sinh năm 1968; nơi cư trú: Đ, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; Có mặt.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà N, bà Q, bà N1: Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1973; địa chỉ: Số A L, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị N1: Ông Đào Xuân T, sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

  4. Anh Lê Hữu T1, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
  5. Anh Lê Hữu H2, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; Có mặt.
  6. Chị Lê Thị Á, sinh năm 1984; nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng (hiện đang cư trú tại A); Vắng mặt.
  7. Chị Nguyễn Thị P1, sinh năm 1982; nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; hiện không có mặt tại nơi cư trú (theo lời khai của bà H1 thì chị P1 hiện nay đang cư trú tại Đài Loan); Vắng mặt.
  8. Anh Nguyễn Bùi H3, sinh năm 1986; nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; Có mặt.
  9. Anh Nguyễn Bùi H4, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; Có mặt.
  10. Anh Nguyễn Bùi H5, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; Có mặt.
  11. Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
  12. Chị Phạm Thị N2, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
  13. Chị Phạm Thị L, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.

    Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị T2, chị Phạm Thị N2 và chị Phạm Thị L: Bà Vũ Thị H1, sinh năm 1962; nơi cư trú: Thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng (theo Giấy uỷ quyền ngày 28/3/2022); Có mặt.

  14. Bà Doãn Thị L1, sinh năm 1953; Chị Phùng Thị Thu H6, sinh năm 1977; cùng nơi cư trú: Số A phố H, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.

    Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Thanh Đ; Cùng địa chỉ: Số A đường H, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng; Có mặt.

  15. Ông Lê Văn Q1, sinh năm 1966; nơi cư trú: Thôn Á, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; Có mặt.
  16. Ông Võ Công C, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
  17. UBND huyện T, thành phố Hải Phòng;

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Minh Đ1; chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường; ông Trần Anh T3; chức vụ: Giám đốc Văn phòng Đ3 – Chi nhánh T12 (theo Quyết định về việc uỷ quyền tham gia tố tụng số 1147/QĐ-UBND ngày 01/3/2022 của Chủ tịch UBND huyện T). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và các tài liệu có trong hồ sơ, nguyên đơn là bà Bùi Thị P trình bày:

Cụ Nguyễn Bùi T4 (chết năm 2006) và cụ Lê Thị X (chết năm 1990) đều không để lại di chúc. Các cụ không có con nuôi, con riêng và có 07 người con chung gồm: Bà Nguyễn Thị B (chết năm 1987), ông Nguyễn Bùi K1 (chết năm 1996), bà Bùi Thị P, bà Bùi Thị N, bà Nguyễn Thị N1, bà Bùi Thị Q và bà Bùi Thị C1 (chết từ khi còn nhỏ). Bà B có chồng là ông Lê Hữu L2 (chết năm 2012) các con là anh Lê Hữu T1, anh Lê Hữu H2 và chị Lê Thị Á. Ông K1 có vợ là bà Vũ Thị H1. Ông K1 và bà H1 sinh được 04 người con là chị Nguyễn Thị P1, anh Nguyễn Bùi H3, anh Nguyễn Bùi H4 và anh Nguyễn Bùi Hiền . Cụ Nguyễn Bùi T4 mang hai họ là họ Nguyễn và họ Bùi nên khi đặt tên cho các con, cụ T4 và cụ X đã đặt thành 02 họ khác nhau nhưng đều là các con đẻ của các cụ. Hiện chị Lê Ngọc Á1 là con của bà B và chị Nguyễn Thị P1, anh Nguyễn Bùi H3 là con của ông K1, bà H1 đang sinh sống tại nước ngoài. Địa chỉ cụ thể của họ thì bà P, bà Q, bà N1 và bà N không nắm được.

Quá trình chung sống, cụ T4 và cụ X tạo dựng được khối tài sản chung là một ngôi nhà gỗ 50m² và diện tích đất 1.965m², thửa đất số 197, tờ bản đồ số 07; địa chỉ thửa đất: Xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng. Sau khi hai cụ chết thì những người được thừa kế của hai cụ chưa có sự bàn bạc, thống nhất về việc phân chia khối tài sản này nhưng bà H1 là vợ của ông K1 đã tự ý kê khai và được Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSD đất) ngày 30/11/2009 cho hộ bà H1. Ngày 26/11/2011, bà H1 đã chuyển nhượng diện tích 198m² đất cho bà Doãn Thị L1 và đến ngày 11/3/2019, bà H1 tiếp tục chuyển nhượng cho ông Lê Văn Q1 diện tích 137m² đất. Diện tích 1.630m² đất còn lại hiện bà H1 đứng tên quyền sử dụng đất theo GCNQSD đất số CR 504354 do UBND huyện T cấp ngày 11/3/2019. Đến tháng 5/2019, bà P và các đồng thừa kế đã phát hiện ra sự việc nêu trên, đã nhiều lần có ý kiến với bà H1 nhưng bà H1 không hợp tác giải quyết.

Trong hồ sơ cấp GCNQSD đất cho hộ bà Vũ Thị H1 ngày 30/11/2009 có Biên bản họp gia đình phân chia di sản thừa kế ngày 25/6/2009, bà P khẳng định đây là tài liệu giả mạo, gian dối, không đúng quy định của pháp luật vì chỉ có bà H1, bà P2 (thực tế cụ T4 và cụ X không có con tên là P2), bà N, bà Q và bà N1; thiếu các con của bà B (vì bà B đã chết trước cụ T4 và cụ X), không có các con của ông K1 (vì ông K1 chết trước cụ T4). Về nội dung biên bản: Có sự giả mạo chữ ký của một số người con của cụ T4, cụ X; tại biên bản này có 02 loại chữ viết, các thông tin về diện tích đất và người được phân chia di sản thừa kế 1.965m² đất là chữ viết khác so với chữ viết ghi thành phần tham gia cuộc họp, không do cùng một người viết, không cùng thời điểm. Do vậy, biên bản này không có giá trị pháp lý. Việc cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào tài liệu này để cấp GCNQSD đất cho bà H1 là không đúng quy định của pháp luật. Việc bà H1 chuyển nhượng cho bà L1; ông Q1 là không hợp pháp vì người sử dụng đất là hộ bà H1 nhưng chỉ có bà H1 chuyển nhượng mà không có các thành viên khác trong hộ tham gia, không có sự đồng ý của các đồng thừa kế khác.

Bà P khởi kiện đề nghị Toà án tuyên hủy các GCNQSD đất, cụ thể:

  • + GCNQSD đất số AQ 211139 do UBND huyện T cấp ngày 30/11/2009 cho hộ bà Vũ Thị H1, diện tích 1.965m² đất, thửa đất số 197;
  • + GCNQSD đất số BD 125958 do UBND huyện T cấp ngày 29/01/2011 cho bà Vũ Thị H1, diện tích 1.767m² đất, thửa đất số 197;
  • + GCNQSD đất số CR 504354 do UBND huyện T cấp ngày 11/3/2019 cho bà Vũ Thị H1, diện tích 1.630m² đất, thửa đất số 197B;
  • + GCNQSD đất số BD 125959 do UBND huyện T cấp ngày 29/01/2011 cho bà Doãn Thị L1, diện tích đất 198m² đất, thửa đất số 197A;
  • + GCNQSD đất số CR 504355 do UBND huyện T cấp ngày 11/3/2019 cho ông Lê Văn Q1, diện tích 137m² đất, thửa đất số 197A.

Các thửa đất trên đều thuộc tờ bản đồ số 07, địa chỉ tại thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng.

+ Yêu cầu Toà án phân chia di sản thừa kế của cụ T4 và cụ X đối với diện tích 1.965m² đất, thửa đất số 197, tờ bản đồ số 07; địa chỉ: Xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng cho các đồng thừa kế theo quy định của pháp luật.

Bị đơn là bà Vũ Thị H1 trình bày:

Bà H1 là vợ của ông K1 (chết năm 1996) và là con dâu của cụ T4 và cụ X. Bà H1 và ông K1 sinh được 04 người con là chị P1, anh H3, anh H4 và anh H5. Chị P1 và anh H3 hiện đang sinh sống tại Đài Loan. Bà H1 xác nhận quan hệ huyết thống của gia đình chồng của bà H1 đúng như bà P, bà N, bà N1 và bà Q trình bày.

Về nguồn gốc diện tích 1.965m² đất, thửa đất số 197, tờ bản đồ số 07 thì chỉ có một phần diện tích đất là của cụ T4 và cụ X là 02 sào 10 thước tương đương diện tích 960m² đất; một phần diện tích là của cụ Nguyễn Bùi L3 và cụ Lê Thị T5 02 sào 10 thước tương đương 960m² đất; còn phần diện tích đất ao là của vợ chồng bà H1, ông K1 sử dụng từ năm 1985, diện tích khoảng 200m² đất.

Diện tích đất cụ T4 đứng tên trong sổ mục kê bao gồm cả diện tích đất của cụ Nguyễn Bùi L3 (là anh trai của cụ T4 đã chết từ lâu). Cụ L3 và cụ Lê Thị T5 (chết năm 2000), có một người con chung là bà Bùi Thị T6. Bà T6 sinh được 08 người con trong đó có anh Lê Văn Q1.

Diện tích hiện trạng là 2.083,5m² đất nhiều hơn so với GCNQSD đất đã cấp cho bà H1 là do quá trình sử dụng đất, bà H1 tự khai hoang thêm. Khi bà H1 làm thủ tục cấp GCNQSD đất có Biên bản họp gia đình phân chia di sản thừa kế ngày 25/6/2009 và đã được sự đồng ý của các con cụ T4, các con của cụ T4 đã ký vào văn bản này, văn bản có xác nhận của UBND xã D nên việc cấp GCNQSD đất cho bà H1 ngày 30/11/2009 là hợp pháp. Đến năm 2011, bà H1 đã chuyển nhượng 198m² đất cho bà L1 và đến năm 2019, tiếp tục tách cho ông Q1 137m² đất. Năm 2006, cụ T4 có viết giấy định đoạt phần đất của cụ T4, cụ thể phần diện tích đất của cụ T4, cụ X là 960m² cụ T4 cho ba cháu nội là Nguyễn Bùi H3, Nguyễn Bùi H4 và Nguyễn Bùi H5 (là các con của ông K1 và bà H1); cho con của cụ H7 (em gái cụ T4) là ông Võ Công C diện tích khoảng 60m² đất.

Nay nguyên đơn khởi kiện, bà H1 chỉ đồng ý chia di sản thừa kế của cụ T4 và cụ X để lại là diện tích 960m² đất cho các đồng thừa kế theo quy định của pháp luật. Các tài sản có trên diện tích đất là của gia đình bà H1. Bà H1 không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy các GCNQSD đất. Bà H1 xác nhận vẫn thường xuyên liên lạc với chị P1 và anh H3. Bà H1 đồng ý và cam kết sẽ thông tin, chuyển giao các văn bản tố tụng của Toà án cho chị P1, anh H3.

Về tài sản trên diện tích đất hiện bà H1 đang quản lý có một nhà 2,5 tầng hình vuông, bê tông chịu lực, xây kiên cố, cửa nhôm kính, mái bằng lợp ngói đỏ là của anh Nguyễn Bùi H4 xây dựng, hiện vợ chồng anh H5 đang sinh sống tại đó. Một nhà ba gian, tường gạch, lợp ngói đỏ xây dựng năm 2009 (nhà thờ cúng gia tiên họ B1) là do bà H1 bỏ tiền ra xây dựng. Hiện bà H1 đang sinh sống tại đây. Một nhà mái bằng, cửa gỗ, công trình phụ là của anh Nguyễn Bùi H5 bỏ tiền ra xây dựng, hiện vợ chồng anh H5 đang quản lý, sử dụng.

Bà H1 đề nghị Toà án thu thập thêm mẫu chữ ký và giám định lại chữ ký, chữ viết mang tên Bùi Thị P, Bùi Thị N3, Bùi Thị Q và Nguyễn Thị N1, Bùi Thị N vì tại Kết luận số 33/KLGĐ ngày 14/4/2020 của Phòng K2 Công an thành phố H đã kết luận không đủ cơ sở đánh giá có đúng chữ ký của họ hay không. Đồng thời bà H1 cũng đề nghị giám định chữ viết và chữ ký của cụ Nguyễn Bùi T4 tại các văn bản viết tay ngày 19/3/2005 và ngày 18/10/2004.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Bùi Thị N, bà Nguyễn Thị N1, bà Bùi Thị Q thống nhất trình bày:

Bà Nguyệt, bà N1 và bà Q thống nhất với lời trình bày của bà P về quan hệ huyết thống trong gia đình; về nguồn gốc, diễn biến quá trình sử dụng diện tích 1.965m² đất và nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà P, đề nghị Toà án phân chia khối di sản thừa kế của cụ T4 và cụ X theo quy định của pháp luật và hủy các GCNQSD đất đã cấp cho chủ sử dụng là bà H1, bà L1 và ông Q1.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê Hữu T1, anh Lê Hữu H2 thống nhất trình bày:

Anh T1 và anh H2 là con của bà B (chết năm 1987) và ông Lê Hữu L2 (chết năm 2012). Bà B và ông L2 sinh được 03 người con là anh T1, anh H2 và chị Á1. Về nguồn gốc diện tích 1.965m² đất nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa kế là của bố mẹ của cụ L3 và cụ T4 để lại cho các cụ, mỗi cụ khoảng 02 sào 10 thước và phần diện tích còn lại do bà H1 khai hoang, cải tạo từ ao. Ngoài ra, cụ Đ2 là anh em của cụ L3, cụ T4 cũng được bố mẹ các cụ cho 02 sào 10 thước. Việc bố mẹ của cụ L3, cụ T4 và cụ Đ2 cho mỗi cụ 02 sào 10 thước tuy không lập thành văn bản nhưng trong gia đình đều xác nhận việc này. Bà H1 đã san lấp, cải tạo ao thành diện tích đất như bây giờ. Phần diện tích bà H1 cải tạo đã chuyển nhượng cho bà L1. Phần diện tích có nguồn gốc của các cụ, bà H1 đã chuyển nhượng một phần diện tích đất cho ông Q1, phần còn lại bà H1 đã xây dựng các công trình trên đất.

Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế diện tích 1.965m² đất, anh T1 và anh H2 (cũng là ý kiến của chị Á1) thống nhất với quan điểm của bà H1 là nếu phải chia di sản thừa kế thì chỉ chia phần diện tích đất của cụ T4 và cụ X là 02 sào 10 thước cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật, không chia phần diện tích đất của cụ L3, cụ T5 và phần diện tích đất do bà H1 cải tạo. Phần diện tích của cụ L3 còn lại thì để làm nơi thờ cúng. Việc nguyên đơn đề nghị hủy các GCNQSD đất đã cấp cho bà L1 và ông Q1 là không đúng vì các diện tích đất này không phải có nguồn gốc là đất của cụ T4 và cụ X.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Bùi H4, anh Nguyễn Bùi H5, chị Phạm Thị T7, chị Phạm Thị L và chị Phạm Thị N2 thống nhất trình bày: Về tài sản trên đất anh H4, anh H5, chị T7, chị L và chị N2 thống nhất với lời trình bày của bà Vũ Thị H1.

Theo lời trình bày của các đương sự thì chị Lê Thị Á hiện đang sinh sống tại nước A, còn chị Nguyễn Thị P1 và anh Nguyễn Bùi H3 đang sinh sống tại Đài Loan. Các đương sự không cung cấp được địa chỉ có căn cứ pháp lý của các đương sự này nên Toà án chỉ thực hiện được việc niêm yết, không thực hiện được việc uỷ thác tư pháp. Quá trình giải quyết vụ án chị Á, chị P1 và anh H3 không có quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và quan điểm về việc giải quyết vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn Q1 trình bày:

Ông Q1 xác nhận lời trình bày của bà H1 về nguồn gốc diện tích 1.965m² đất. Diện tích đất bà H1 được cấp GCNQSD đất bao gồm cả phần diện tích đất của cụ L3 và cụ T4 mỗi cụ có 2 sào 10 thước, phần diện tích đất còn lại do bà H1 cải tạo từ diện tích đất ao. Khi bà H1 làm thủ tục cấp GCNQSD đất thì các con của cụ T4, cụ X đều đồng ý. Bà H1 tách cho ông Q1 một phần diện tích đất chính là một phần diện tích đất cụ L3 là ông ngoại của ông Q1 được bố mẹ phân chia cho 02 sào 10 thước. Cụ L3 và cụ T5 sinh được một người con là bà T6 (là mẹ đẻ của ông Q1). Bà T6 và bà H1 đã thoả thuận với nhau, bà H1 tách cho ông Q1 một phần diện tích đất, phần diện tích đất còn lại của cụ L3, cụ T5 thì giao cho bà H1 quản lý để thờ cúng tổ tiên. Khi ông Q1 và bà H1 làm thủ tục tách diện tích đất này thì chính quyền địa phương nói rằng giữa bà H1 và ông Q1 không có quan hệ huyết thống nên nếu muốn tách diện tích thì phải làm thủ tục chuyển nhượng. Ông Q1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị hủy GCNQSD đất đã cấp cho ông Q1.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Doãn Thị L1, chị Phùng Thị Thu H6 thống nhất trình bày:

Ngày 11/01/2011, bà L1 đã nhận chuyển nhượng của bà H1 diện tích 198,0m² đất ở tại thửa đất số 197, tờ bản đồ số 07, địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng. Hai bên có lập hợp đồng chuyển nhượng và đã được UBND xã D. Đến ngày 29/01/2011, UBND huyện T đã cấp GCNQSD đất số BĐ125959, số vào sổ cấp GCN: CH00303 cho bà Doãn Thị L1. Tại thời điểm chuyển nhượng thì bà H1 đã được cấp GCNQSD đất và không có tranh chấp với ai. Việc bà H1 chuyển nhượng diện tích 198m² đất ở cho bà L1 còn có sự đồng ý của các con bà H1 là các anh Nguyễn Bùi H3, Nguyễn Bùi H4 và Nguyễn Bùi Hiền . Đến ngày 16/12/2016, bà L1 đã lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng diện tích đất nêu trên cho con gái là chị Phùng Thị Thu H6 tại Văn phòng C6. Ngày 10/4/2019, Văn phòng Đ3 - Chi nhánh huyện T12 đã ghi nhận nội dung thay đổi này trên GCNQSD đất. Kể từ ngày ghi nhận này thì bà L1 đã chấm dứt quyền và lợi ích liên quan đến diện tích đất nêu trên. Nay bà L1 và chị H6 không đồng ý yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy GCNQSD đất đã cấp cho bà L1, đính chính sang tên chị H6 vì việc bà L1 nhận chuyển nhượng diện tích đất từ bà H1 là hợp pháp. Chị H6 đề nghị Toà án giải quyết vụ án vắng mặt chị H6.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Võ Công C trình bày:

Cụ Nguyễn Bùi T4 là anh trai của mẹ đẻ ông C (cụ Bùi Thị H7). Năm 2000, ông C chuyển nhượng đất cho bà Bùi Thị N (con gái cụ T4) để về quê nội làm ăn, sinh sống. Nguồn gốc diện tích đất này là do bố mẹ đẻ của ông C là cụ Võ Văn U (tức Võ Công U1) và cụ Bùi Thị H7 cho ông C. Tuy nhiên, việc lập nghiệp tại nơi ở mới không thành công nên năm 2002, ông C quay trở về mua lại của bà N diện tích 136m² đất. Khoảng năm 2003, cụ T4 đã cho ông C khoảng 54m² đất để nhập vào phần diện tích đất ông C đã mua lại. Diện tích đất ông C đang quản lý, sử dụng chưa được cấp GCNQSD đất nhưng đã được xã cấp Trích đo địa chính có diện tích là 190m², thửa số 196, tờ bản đồ số 07. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế, ông C không đồng ý phân chia diện tích đất cụ T4 đã cho ông C và ông C nhất trí với quan điểm của bà H1.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND huyện T, thành phố Hải Phòng trình bày:

Về việc cấp GCNQSD đất cho bà Vũ Thị H1: Trên cơ sở hồ sơ đề nghị cấp GCNQSD đất của bà H1, biên bản họp gia đình phân chia di sản thừa kế được UBND xã D theo quy định, kết quả kiểm tra, xác minh của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, kết quả thẩm định của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, thì ngày 30/11/2009 UBND huyện T đã cấp GCNQSD đất AQ 211139, số vào sổ H/02350 cho hộ bà Vũ Thị H1, diện tích 1.965m² đất, thửa đất số 197, tờ bản đồ số 07; địa chỉ xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng.

Về việc cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bà Doãn Thị L1: Trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giữa bà H1 và bà L1 đã được UBND xã Dương Quan chứng thực theo quy định, hồ sơ đề nghị cấp lại GCNQSD đất của bà H1, bà L1; kết quả xác minh của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, ngày 29/01/2011, UBND huyện đã cấp lại GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 125958, số vào sổ CH 00304 cho bà Vũ Thị H1, diện tích đất 1.767m², thửa đất số 197, tờ bản đồ số 07 và GCNQSD đất số BD 125959, số vào sổ CH 00303 cho bà Doãn Thị L1, diện tích 198m² đất, thửa đất số 197A, tờ bản đồ số 7.

Về việc cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Lê Văn Q1: Ngày 11/3/2019, UBND huyện đã cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 504355, số vào sổ CH 02430 cho ông Lê Văn Q1, diện tích 137,0m² đất, thửa đất số 197A, tờ bản đồ số 7. Ngày 11/3/2019, UBND huyện T đã cấp đổi GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 504354, số vào sổ CH 02429 cho bà Vũ Thị H1, diện tích 1.630m² đất, thửa đất số 197B, tờ bản đồ số 07, cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã D; huyện T, thành phố Hải Phòng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2022/DS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2022, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều 634, 636, 637, 638, 677, 678, 679, 680 Bộ luật Dân sự năm 1995; các Điều 133, 609, 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 652 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 49, 50, 123 Luật Đất đai năm 2003; khoản 4 Điều 34, khoản 1 Điều 147, Điều 160, Điều 161, Điều 164, Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; Xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Bùi Thị P về việc chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Bùi T4 và cụ Lê Thị X.

  1. Bà Bùi Thị P, bà Bùi Thị N, bà Nguyễn Thị N1 và bà Bùi Thị Q được quyền sử dụng diện tích đất ở là 684,4m², thửa đất số 197, tờ bản đồ số 7; địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng, bao gồm các mốc: 6,7,8,9,10,11,12,13,6A,6.
  2. Bà Vũ Thị H1, chị Nguyễn Thị P1, anh Nguyễn Bùi H3, anh Nguyễn Bùi H4 và anh Nguyễn Bùi H5 có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Bùi Thị P, bà Bùi Thị N, bà Nguyễn Thị N1 và bà Bùi Thị Q 3.739.094.000 đồng. Bà Bùi Thị P, bà Bùi Thị N, bà Nguyễn Thị N1 và bà Bùi Thị Q mỗi người được nhận số tiền là: 934.773.500 đồng (Chín trăm ba mươi bốn triệu bảy trăm bảy mươi ba nghìn năm trăm đồng).
  3. Bà Vũ Thị H1, chị Nguyễn Thị P1, anh Nguyễn Bùi H3, anh Nguyễn Bùi H4 và anh Nguyễn Bùi H5 được được quyền sử dụng diện tích đất ở là 1.066,4m², thửa đất số 197, tờ bản đồ số 7; địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng, bao gồm các mốc: 6,6A,18A,18,1,2,3,4,4A,5A,5,6.

    (Diện tích đất phân chia cho các đương sự có sơ đồ kèm theo Bản án sơ thẩm)

  4. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ HP 02350 do UBND huyện T cấp ngày 30/11/2009 cho hộ bà Vũ Thị H1, diện tích 1.965m²; đất ở, thửa đất số 197, tờ bản đồ số 07; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: CH00304 do UBND huyện T cấp ngày 29/01/2011 cho bà Vũ Thị H1 được quyền sử dụng diện tích 1.767m², thửa đất số 197, tờ bản đồ số 07 và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH 02429 do UBND huyện T cấp ngày 11/3/2019 cho bà Vũ Thị H1 được quyền sử dụng diện tích đất ở 1.630,0m², tại thửa đất số 197B, tờ bản đồ số 07; địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng.
  5. Các đương sự được phân chia đất nêu trên có nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
  6. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 125959 do UBND huyện T cấp ngày 29/01/2011 cho bà Doãn Thị L1 được quyền sử dụng diện tích đất 198m², thửa đất số 197A, tờ bản đồ số 07; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 504355 do UBND huyện T cấp ngày 11/3/2019 cho ông Lê Văn Q1 được quyền sử dụng diện tích đất 137m², thửa đất số 197A, tờ bản đồ số 07. Các thửa đất trên đều có địa chỉ tại thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ thi hành án và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 09/8/2022, bị đơn là bà Vũ Thị H1 kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm.

Ngày 10/8/2022, nguyên đơn là bà Bùi Thị P kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T cấp cho bà Doãn Thị L1 và ông Lê Văn Q1; bà P đồng thời đề nghị được nhận di sản thừa kế bằng hiện vật.

Ngày 12/8/2022, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 07/QĐKNPT-VKS-DS đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định diện tích đất tranh chấp tại thửa đất số 197 là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Bùi T4, cụ Nguyễn Bùi L3 (em trai cụ T4) và diện tích đất tại thửa đất số 198 là của bà Vũ Thị H1 được Nhà nước hợp thức hóa khi cấp GCNQSD đất để chia thừa kế theo pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, nội dung kháng cáo, cùng đại diện theo ủy quyền và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía nguyên đơn trình bày: Về quan hệ huyết thống như Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định. Về tài sản, quá trình chung sống hai cụ có tạo lập được khối tài sản chung là 01 căn nhà gỗ diện tích 50m² đất thuộc tờ bản đồ số 7, thửa đất số 197 tại xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng, các cụ đã sinh sống tại thửa đất trên cho đến khi chết. Các cụ khi còn sống cũng không lập di chúc định đoạt tài sản của mình cho riêng ai, cũng không có văn bản tặng cho hợp pháp một phần hoặc toàn bộ tài sản. Như vậy, di sản của các cụ để lại là 1.965m² đất sẽ được phân chia cho 06 anh chị em, trong đó 04 chị em (Phích, N, N1, Q) mỗi người được hưởng 250m², trong khi bà H1 và các con của bà H1 được hưởng kỷ phần của ông K1, các con bà B được hưởng kỷ phần của bà B với tổng 965m² là không đảm bảo sự công bằng trước pháp luật. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ chia cho các bà P, N, N1, Q một phần đất là 684m² trong tổng diện tích 1.000m² mà các bà được hưởng. Phần còn lại các bà phải nhận bằng giá trị tài sản do bà H1 và các con bà H1 phải trả, tuy nhiên, trên thực tế diện tích đất trống trên tổng diện tích 1.965m² (không có công trình xây dựng) còn rất nhiều, nên việc Tòa án tuyên trả bằng tiền sẽ không đảm bảo cho việc thi hành án sau này.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) sửa bản án sơ thẩm theo hướng hủy GCNQSD đất số BD 125959 do UBND huyện T cấp ngày 29/01/2011 cho bà Doãn Thị L1, diện tích 198m² đất, thửa đất số 197A, tờ bản đồ số 07; GCNQSD đất số CR 504355 do UBND huyện T cấp ngày 11/3/2019 cho ông Lê Văn Q1, diện tích 137m² đất, thửa đất số 197A, tờ bản đồ số 07. Các thửa đất trên đều có địa chỉ tại thôn Đ, xã D, huyện T; phân chia di sản thừa kế của các bà P, N, N1, Q theo hướng xác định lại phần di sản các thừa kế được hưởng và chia toàn bộ kỷ phần của các Phích, N, N1, Q bằng hiện vật.

Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, cùng đại diện theo ủy quyền và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía bị đơn thống nhất trình bày: Đất ao là của UBND xã quản lý, người dân ai cũng có thể sử dụng. Chỉ có một phần diện tích đất là của cụ T4 và cụ X là 02 sào 10 thước tương đương diện tích 960m² đất; một phần diện tích là của cụ Nguyễn Bùi L3 và cụ Lê Thị T5 02 sào 10 thước tương đương 960m² đất; còn phần diện tích đất ao là của vợ chồng bà H1, ông K1 sử dụng từ năm 1985, diện tích khoảng 200m² đất. Bà H1 chỉ đồng ý chia di sản thừa kế của cụ T4 và cụ X để lại là diện tích 960m² đất cho các đồng thừa kế theo quy định của pháp luật và chia cả cho các con của bà H1 vì các cháu cũng có đóng góp trong việc quản lý, giữ gìn đất. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm:

1. Về việc tuân theo pháp luật:

  • - Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi HĐXX phúc thẩm nghị án thấy rằng: Thẩm phán đã chấp hành đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
  • - Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa, các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Đơn kháng cáo của đương sự và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng làm trong hạn luật định nên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội chấp nhận việc kháng cáo và xem xét vụ án theo thủ tục phúc thẩm là đúng quy định của pháp luật.

2. Về nội dung kháng cáo, kháng nghị:

Sau khi phân tích nội dung vụ án, căn cứ các quyết định giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm, yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, bác kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn; chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định diện tích đất tranh chấp tại thửa đất số 197 là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Bùi T4, cụ Nguyễn Bùi L3 (em trai cụ T4) và diện tích đất tại thửa đất số 198 là của bà Vũ Thị H1 được Nhà nước hợp thức hóa khi cấp GCNQSD đất để chia thừa kế theo pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa.

[1] Về tố tụng:

  • [1.1] Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng thụ lý, giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng quy định tại khoản 5 Điều 26, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 34, khoản 1 Điều 623 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.
  • [1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, một số đương sự vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; một số đương sự vắng mặt nhưng có mặt người đại diện theo ủy quyền; một số đương sự vắng mặt nhưng không có kháng cáo và đã được triệu tập hợp lệ 02 lần nên căn cứ quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX quyết định tiếp tục xét xử.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là bà Bùi Thị P, bị đơn là bà Vũ Thị H1 và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Hội đồng xét xử thấy:

  • [2.1] Về quan hệ huyết thống như Tòa án cấp sơ thẩm xác định là đúng.
  • [2.2] Đối với quá trình thay đổi về diện tích thửa đất số 197, tờ bản đồ số 07; địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng, HĐXX thấy:
    • + Tại sổ mục kê năm 1985 thì thửa đất số 197, tờ bản đồ số 07, diện tích 1.935m² đất đứng tên chủ sử dụng là Bùi Thướng, loại đất thổ cư.
    • + Tại sổ đăng ký đất đai năm 1989, thửa đất trên có diện tích 1.535m² đất đứng tên chủ sử dụng là Nguyễn Bùi Thướng .1
    • + Căn cứ vào bản đồ giải thửa 299, vẽ năm 1991, thửa đất số 197, tờ bản đồ số 07 không thể hiện diện tích của thửa đất, có ký hiệu loại ruộng đất là “T” (thổ cư).
    • + Tại Bản đồ giải thửa năm 1991 không thể hiện diện tích, có tứ cận: Phía Bắc giáp ông Nguyễn Bùi Đ2 (thửa đất số 188) và ông Trần Bá H8 (thửa đất số 187); phía Đông giáp ao của Hợp tác xã (bản đồ không thể hiện diện tích đất ao nhưng theo sổ mục kê năm 1985 thể hiện diện tích đất ao là 950m² đất); phía Nam giáp hộ bà Trần Thị C2 (thửa số 301); phía Tây giáp hộ bà Lê Thị M (thửa số 195), bà Bùi Thị H7 (thửa đất số 196 – là mẹ đẻ của ông Võ Công C), bà Lê Thị N4 (thửa số 199).
    • + Theo GCNQSD đất đã cấp cho bà H1 năm 2009, thửa đất số 197, tờ bản đồ số 07 có diện tích là 1.965m² đất (tăng 30m² đất so với diện tích ghi tại sổ mục kê năm 1985 là sai số do đo vẽ), có tứ cận: Phía Bắc giáp ông Nguyễn Bùi Đ2 và ông Trần Bá H8; phía Đông giáp ngõ xóm; phía Nam giáp hộ bà Trần Thị C2; phía Tây giáp hộ bà Lê Thị M, ông Đào Xuân T và ông Vũ Công C3. Khi UBND xã D hồ sơ lần đầu để cấp GCNQSD đất cho hộ bà Vũ Thị H1 năm 2009 đã căn cứ vào sổ mục kê năm 1985.
    • + Thửa đất số 197, tờ bản đồ số 07 qua xem xét thẩm định tại chỗ thì diện tích đất hiện trạng là 2.083,5m², tăng so với diện tích tại GCNQSD đất đã cấp cho bà H1 năm 2009 là 118,5m² là do sai số trong quá trình đo đạc. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận cho bà H1 năm 2009 dùng phương pháp đo bằng tay, còn hiện tại đo đạc bằng máy nên có sự thay đổi.

    Như vậy, theo GCNQSD đất cấp cho hộ bà H1 năm 2009 thì hình dạng của thửa đất cạnh phía Đông đã thay đổi không còn tiếp giáp ao của Hợp tác xã mà tiếp giáp ngõ xóm. Về nội dung này, UBND xã D đã xác định do một phần diện tích đất ao thể hiện tại Bản đồ giải thửa đã được cấp vào GCNQSD đất ngày 30/11/2009 cho bà H1 và một phần diện tích đất ao cấp cho bà Trần Thị C2.

  • [2.3] Về quá trình sử dụng đất tại thửa đất số 197 và thửa đất số 198, tờ bản đồ số 07; địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng, HĐXX thấy:

    Tại thời điểm lập hồ sơ cấp GCNQSD đất cho hộ bà H1 năm 2009, cán bộ địa chính xã D đã xác định thửa đất số 197, tờ bản đồ số 7 đứng tên đăng ký sử dụng tại sổ mục kê năm 1985 là Bùi Thướng .1 Đối với thửa 198 thể hiện trên bản đồ giải thửa năm 1991 là diện tích đất ao của Hợp tác xã. Thực tế, diện tích đất đứng tên Bùi T4 tại thửa 197, tờ bản đồ số 7 đã bao gồm một phần diện tích đất ao của Hợp tác xã thửa 198. Phần diện tích đất ao này đã được cụ T4 sử dụng từ khi cụ còn sống. Khi UBND xã D hồ sơ cấp GCNQSD đất cho hộ bà H1 lần đầu tiên năm 2009 đã bao gồm cả diện tích đất ao của Hợp tác xã. Năm 2009, khi làm thủ tục cấp GCNQSD đất cho bà H1, bà H1 không phải nộp tiền hợp thức hoá diện tích đất ao vì tại Bản đồ giải thửa năm 1991, thửa đất ao số 198 thể hiện chữ “T”, thửa này liền kề với thửa đất số 197, có nghĩa là loại đất thổ cư. Người làm chứng bà Lê Thị B2 là hàng xóm gần nhà bà H1 cho biết: Ao liền kề với thửa đất số 197 là ao của Hợp tác xã, do Hợp tác xã đào đất làm đường cho khu dân cư khoảng 50 năm trước nên đã hình thành ao này. Sau đó Hợp tác xã không sử dụng nên các gia đình liền kề ao này đã sử dụng, trong đó có gia đình cụ T4.

  • [2.4] Đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng cho rằng diện tích đất tại thửa số 197, tờ bản đồ số 07; địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng là di sản của cụ T4 và cụ Nguyễn Bùi L3 (em trai cụ T4) và diện tích đất tại thửa đất số 198 là của bà Vũ Thị H1 được Nhà nước hợp thức hóa khi cấp GCNQSD đất, HĐXX thấy:
    • [2.4.1]. Tài liệu trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của bà Bùi Thị T6 (con cụ L3) thể hiện ông nội của bà T6 là cố Nguyễn Bùi H9. Cố H9 có hai người vợ là cố Lê Thị E và cố Trần Thị R. Cố Hướng và cố Em sinh được ba người con là: Cụ Nguyễn Bùi L3, cụ Bùi Thị T8, cụ Bùi Thị T9. Cố Hướng và cố R sinh được 06 người con là: Cụ Bùi Thị Ó, cụ Bùi Thị C4, cụ Nguyễn Bùi T4, cụ Bùi Thị H7, cụ Nguyễn Bùi Đ2 và cụ Bùi Thị G. Hiện chỉ còn cụ Đ2 và cụ G còn sống. Cố Hướng có diện tích đất 08 sào tương đương với 2.880m² đất. Theo phong tục tập quán cũ, các cố chỉ chia đất cho con trai, không chia cho con gái nên diện tích 2.880m² đất được các cố chia cho 03 người con trai là cụ Nguyễn Bùi L3, cụ Nguyễn Bùi T4 và cụ Nguyễn Bùi Đ2 mỗi người 02 sào 10 thước tương đương diện tích 960m² đất. Cụ L3, cụ T5 sinh ra bà T6. Do cụ L3 là thủy thủ đi sang Pháp mắc kẹt không về Việt Nam nên mất tại Pháp năm 1960. Cụ T5 và bà T6 sống cùng cố R và cụ T4. Đến năm 1955, bà T6 đi lấy chồng thì cụ T5 tiếp tục sống cùng gia đình cụ T4 cho đến năm 1993 do cụ T5 tuổi cao sức yếu nên bà T6 đón về nuôi dưỡng cho đến năm 2000 thì cụ T5 chết. Năm 1989, cụ T5 và bà T6 đồng ý cho cụ Đ2 (là chú ruột của bà T6) diện tích 288m² đất mục đích để sau này cụ Đ2 thờ cúng bố mẹ của bà T6 và trên thực tế hiện nay cụ Đ2 đang thờ cúng bố mẹ của bà T6 tại gia đình. Phần diện tích đất còn lại của cụ L3, cụ T5 là 672m² đất vẫn cùng thửa đất đứng tên cụ T4. Sau khi cụ T4 chết thì bà H1 (là con dâu của cụ T4) quản lý, sử dụng và đã làm GCNQSD đất đứng tên bà H1. Năm 2019, theo nguyện vọng của bà T6, bà H1 đồng ý tách 137m² đất cho con trai của bà T6 là ông Lê Văn Q1. Phần diện tích đất còn lại có nguồn gốc của cụ L3, cụ T5 bà T6 đồng ý giao lại cho bà H1 quản lý để làm nơi thờ cúng tổ tiên. Cụ Nguyễn Bùi Đ2 thống nhất với lời trình bày của bà T6 về quan hệ huyết thống của gia đình cụ L3 và cụ Đ2, đồng thời cũng xác định cố Nguyễn Bùi H9 có hai người vợ là cố Lê Thị E và cố Trần Thị R. Cố Hướng có 09 người con trong đó có 03 người con trai và 06 người con gái. Các cố có khối tài sản chung là diện tích đất 06 sào 03 thước. Sau khi các cố chết thì ba anh em trai đã chia nhau mỗi người 02 sào 10 thước đất. Cụ T5 và bà T6 sinh sống cùng thửa đất với cụ T4. Khi cụ T4 còn sống, bà T6 đã đồng ý cắt 12 thước đất cho cụ T4 và 12 thước đất cho cụ Đ2. Diện tích đất còn lại để làm nơi thờ cúng. Năm 2019, bà T6 và bà H1 thoả thuận cắt lại 137m² đất cho ông Q1 con trai bà T6; diện tích đất còn lại bà T6 đồng ý để bà H1 quản lý để làm nơi thờ cúng tổ tiên.
    • [2.4.2]. Bà H10 xuất trình một số tài liệu trình bày các văn bản là do cụ Nguyễn Bùi T4 viết có nội dung thể hiện đề nghị UBND xét diện tích đất vườn của cụ T4 để lại cho 03 người con của ông K1 và bà H1 là Nguyễn Bùi H3, Nguyễn Bùi H4 và Nguyễn Bùi H5, cụ thể:
      • + Văn bản ngày 19/3/2005 có nội dung: Cụ Thướng năm nay đã 81 tuổi, bị bệnh sa tim nên sức khoẻ rất yếu. Bà Bùi Thị T6 là cháu họ nội của cụ T4 có đòi vườn, cụ T4 đã đo 01 suất là 02 sào 10 thước trả và bảo bà T6 cho người sang quản lý. Nhưng thời gian ấy vườn ở giữa xóm không có giá trị nên bà T6 nói con bà không có ai sang ở, vì vậy cụ T4 vẫn quản lý và năm nào cũng phải nộp thuế bằng tiền lương hưu của cụ T4. Mẹ bà T6 là cụ Lê Thị T5 ở với cụ T4 được vợ chồng cụ T4 trông nom chu đáo. Sau này bà T6 đón về chăm sóc được mấy năm thì cụ T5 mất. Số vườn 02 sào bà T6 đã cho con ông Đ2 12 thước để cúng cụ L3, cụ T5, còn 01 sào đất thì bà T6 chuyển nhượng cho bà H1 và cho bà H1 10 thước để làm nơi thờ cúng nhưng sau đó bà T6 lại đòi lại vườn thì cụ T4 không đồng ý vì đã nộp thuế nhiều năm và trồng nhiều cây lâu năm.
      • + Đơn đề nghị ngày 10/7/2005, thể hiện: Năm nay cụ Bùi T4 81 tuổi. Vừa rồi Ban ruộng đất xã D xuống đo vườn cho cụ T4: “Hôm nay ngày 10/7/2005, tôi viết di chúc để sau khi tôi chết đi tổng số diện tích trong vườn này tôi cho cháu ngoại tôi là Võ Công C 08 thước. Còn lại tôi cho ba đứa cháu trai của tôi tên Nguyễn Bùi là trưởng được phần hơn 10 thước để thờ cúng. Cháu trưởng tôi là Nguyễn Bùi H11 được hơn 10 thước vườn để cúng từ cụ Bùi Đức N5 trở xuống. còn lại số diện tích trong vườn tôi chia cho ba cháu trai của tôi tên Nguyễn Bùi H11, Nguyễn Bùi H4 và Nguyễn Bùi H5”. Ngoài ra, tại đơn đề nghị này còn có nội dung viết về việc bà T6 là con gái của cụ L3 đòi vườn và cụ T4 đã trả nhưng bà T6 sang trông nom được ít ngày thì lại bỏ và cho cháu Nguyễn Bùi T10 12 thước lập tự để cúng cụ L3, cụ T5. Sau đó do bà T6 có con gái đi nước ngoài gửi tiền về nên bà T6 không đòi nữa (nội dung này giống nội dung văn bản ngày 19/3/2005).

    HĐXX phúc thẩm đồng tình với phân tích, nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm, ngoài lời trình bày như trên thì bà H1, bà T6, cụ Đ2 không xuất trình được chứng cứ xác định vị trí, diện tích đất của cụ L3, cụ T4 trong tổng diện tích đất tranh chấp. Những văn bản bà H1 xuất trình không có căn cứ để xác định là chữ viết của cụ T4 và nội dung của các văn bản này cũng không thể hiện rõ ý chí định đoạt của cụ T4 đối với thửa đất số 197, tờ bản đồ số 07. Quá trình giải quyết vụ án, bà H1 đề nghị giám định chữ viết và chữ ký của cụ Nguyễn Bùi T4 ngày 18/10/2004, ngày 19/3/2005 và ngày 10/7/2005, tuy nhiên, bà H1 không giao nộp được mẫu để so sánh, Toà án cấp sơ thẩm cũng tiến hành thu thập mẫu so sánh để thực hiện việc giám định nhưng không có kết quả nên không tiến hành giám định được. Vì vậy, không có cơ sở để xác định cụ L3, cụ T5 được quyền sử dụng diện tích đất 02 sào 10 thước của thửa đất số 197, tờ bản đồ số 07 như trình bày của bà H1, bà T6, cụ Đ2.

    [2.4.3] Do đó, với phân tích nhận định nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định diện tích đất thổ cư 1.935m², thửa đất số 197, tờ bản đồ số 07; địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng có nguồn gốc là của cụ Nguyễn Bùi T4 và cụ Lê Thị X; diện tích đất này theo UBND xã D đã bao gồm cả một phần diện tích đất ao của Hợp tác xã tại thửa số 198 là có căn cứ, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát và bà H1 cho rằng diện tích đất tranh chấp tại thửa đất số 197 là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Bùi T4, cụ Nguyễn Bùi L3 (em trai cụ T4) và diện tích đất tại thửa đất số 198 là của bà Vũ Thị H1 được Nhà nước hợp thức hóa khi cấp GCNQSD đất là không có cơ sở chấp nhận do hồ sơ quản lý địa chính tại địa phương và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đều không thể hiện trong thửa đất tranh chấp có một phần đất thuộc quyền sử dụng của cụ L3, cụ T5 cũng như bà T11. diện tích đất tại thửa đất số 198 thuộc quyền sử dụng của cụ T4, cụ X, việc cho rằng phần diện tích đất này được hợp thức hóa cho bà H1 là không phù hợp quy định pháp luật.

  • [3] Xét tính hợp pháp của GCNQSD đất số AQ 211139 do UBND huyện T cấp ngày 30/11/2009 cho hộ bà Vũ Thị H1, diện tích 1.965m² đất, thửa đất số 197; GCNQSD đất số BD 125958 do UBND huyện T cấp ngày 29/01/2011 cho bà Vũ Thị H1, diện tích 1.767m² đất, thửa đất số 197 và GCNQSD đất số CR 504354 do UBND huyện T cấp ngày 11/3/2019 cho bà Vũ Thị H1, diện tích 1.630m² đất, thửa đất số 197B, HĐXX thấy:

    Ngày 30/11/2009, UBND huyện T cấp GCNQSD đất số vào sổ HP 02350 cho hộ bà Vũ Thị H1, diện tích 1.965m² đất ở, thửa đất số 197, tờ bản đồ số 07; địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng. Căn cứ pháp lý để UBND huyện T cấp GCNQSD đất cho hộ bà Vũ Thị H1 là “Biên bản họp gia đình tự phân chia di sản thừa kế ngày 25/6/2009”. Biên bản này thể hiện nội dung cơ bản là: Ngày 25/6/2009, tại nhà của bà H1 bao gồm bà Vũ Thị H1, bà Nguyễn Thị " P2”, bà Bùi Thị N, bà Bùi Thị Q và bà Bùi Thị N3 là con của cụ T4 và cụ X. Cụ T4 và cụ X mất không để lại di chúc; các cụ để lại diện tích 1.935m² đất, thửa số 197, tờ bản đồ số 07 xã D Các bà nêu trên nhất trí thoả thuận chuyển giao di sản thừa kế quyền sử dụng 1.935m² đất cho bà Vũ Thị H1 để làm thủ tục cấp GCNQSD đất. Dưới mục tên và chữ ký các thành viên có chữ ký tên, chữ viết Vũ Thị H1, Bùi Thị P, Bùi Thị N, Bùi Thị N3 và chữ viết Bùi Thị Q. Biên bản này có chữ ký của trưởng thôn và xác nhận của UBND xã: “UBND xã D - Hải Phòng xác nhận tên và chữ ký của các thành viên trong biên bản họp gia đình tự phân chia di sản thừa kế là thực”. Tuy nhiên, trên cơ sở xem xét tài liệu trong hồ sơ vụ án, các kết luận giám định, đủ căn cứ xác định Biên bản họp gia đình tự phân chia di sản thừa kế ngày 25/6/2009 được chính người ghi biên bản – ông Lê Văn C5 (cán bộ địa chính thời điểm đó) xác nhận những người đã ký tên tại văn bản này không ký trước mặt người lập hồ sơ, cán bộ địa chính không biết chữ ký này có đúng là của họ hay không; nội dung của biên bản chưa được hoàn thiện nhưng đã có chữ ký tại mục “Tên và chữ ký các thành viên”. Cơ quan chuyên môn đã kết luận chữ ký của bà N dưới mục “Tên và chữ ký các thành viên” là do bà N ký, nhưng căn cứ vào bản kết luận giám định chữ ký và lời khai của ông C5 thì chữ viết “Bùi Thị N, Bùi Thị P, Bùi Thị N3” là do ông C5 viết. Quá trình giải quyết vụ án, bà P, bà N, bà N3 và bà Q trình bày trên thực tế không có cuộc họp gia đình, các bà không đồng ý cho bà H1 phần di sản thừa kế mà họ được hưởng; biên bản có nhiều nét chữ, có những nội dung quan trọng được điền sau khi có các chữ ký tại mục “Tên và chữ ký các thành viên”; Biên bản này cũng không đầy đủ chữ ký của các thành viên được hưởng di sản thừa kế của cụ T4 và cụ X. Việc UBND xã D xác nhận tại Biên bản nội dung như trên là không đúng. Vì vậy, “Biên bản họp gia đình tự phân chia di sản thừa kế ngày 25/6/2009” được lập không đúng quy định của pháp luật; không thể hiện đúng sự tự nguyện của các thành viên tham gia ký văn bản. Do đó, UBND huyện T căn cứ vào “Biên bản họp gia đình tự phân chia di sản thừa kế ngày 25/6/2009” để cấp GCNQSD đất số vào sổ HP 02350 cho hộ bà Vũ Thị H1 ngày 30/11/2009 là không đúng quy định của pháp luật, Tòa án cấp sơ thẩm hủy GCNQSD đất nêu trên là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.

    Do bà H1 không có quyền sử dụng đất hợp pháp tại thời điểm được cấp GCNQSD đất lần đầu năm 2009 nên Tòa án cấp sơ thẩm đồng thời hủy GCNQSD đất số BD 125958 do UBND huyện T cấp ngày 29/01/2011 cho bà Vũ Thị H1, diện tích 1.767m² đất, thửa đất số 197 (cấp đổi sau khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà L1) và hủy GCNQSD đất số CR 504354 do UBND huyện T cấp ngày 11/3/2019 cho bà Vũ Thị H1, diện tích 1.630m² đất, thửa đất số 197B (cấp đổi sau khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Q1) là đúng quy định pháp luật.

  • [4] Xét tính hợp pháp của GCNQSD đất số CR 504355 do UBND huyện T cấp ngày 11/3/2019 cho ông Lê Văn Q1, diện tích 137m² đất, thửa đất số 197A, HĐXX thấy:

    Năm 2019, bà H1 đã cắt một phần diện tích đất cho ông Q1 (là con trai của bà T6), hiện ông Q1 đã được cấp GCNQSD đất và đã xây dựng nhà, sinh sống ổn định; quá trình giải quyết vụ án, bà H1 xác định tách một phần diện tích đất cho ông Q1 sử dụng không phải là chuyển nhượng mà vì tình cảm họ hàng; vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định diện tích đất đã tách cho ông Q1 không còn là di sản thừa kế của cụ T4, cụ X cũng là phù hợp, nên không chấp nhận yêu cầu hủy GCNQSD đất đã cấp cho ông Lê Văn Q1.

  • [5] Xét tính hợp pháp của GCNQSD đất số BD 125959 do UBND huyện T cấp ngày 29/01/2011 cho bà Doãn Thị L1, diện tích đất 198m² đất, thửa đất số 197A, HĐXX thấy:

    Năm 2011, bà H1 đã chuyển nhượng cho bà Doãn Thị L1 diện tích đất 198m². Ngày 29/01/2011, bà L1 đã được UBND huyện T cấp GCNQSD đất đối với diện tích đất này và sử dụng ổn định đến nay. Việc bà H1 chuyển nhượng cho bà L1 diện tích đất này khi chưa có quyền sử dụng hợp pháp là không đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, như Tòa án cấp sơ thẩm nhận định, tại thời điểm bà L1 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất này thì bà H1 đã được cấp GCNQSD đất, việc chuyển nhượng được thực hiện trước thời điểm xảy ra tranh chấp gần 10 năm nên bà L1 là người thứ ba ngay tình. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu hủy GCNQSD đất đã cấp cho bà L1 là đúng theo quy định tại Điều 133 Bộ luật Dân sự.

  • [6] Ngoài ra, quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã xác định khi còn sống cụ T4 đã cho ông Võ Công C diện tích đất 54m² nên Tòa án cấp sơ thẩm không xác định diện tích đất này là di sản thừa kế của cụ T4, cụ X là đúng pháp luật.
  • [7] Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chia di sản thừa kế của cụ T4 và cụ X theo quy định của pháp luật và hủy các GCNQSD đất đã cấp cho bà H1 là có căn cứ.
  • [8] Về việc xác định giá trị di sản, số lượng cụ thể tài sản cần phân chia; trên cơ sở kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và kết quả định giá tài sản; nhu cầu của các bên, xem xét về mặt thi hành án, HĐXX xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm đã tính toán, cũng như cách thức chia di sản, cũng như thanh toán, đối trừ nghĩa vụ như đã quyết định là cụ thể, có căn cứ, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, nên HĐXX phúc thẩm xét thấy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn, cũng như kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • [9] Về án phí: Nguyên đơn, bị đơn đều là người cao tuổi, đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án đều đề nghị được miễn án phí, nên theo quy định của Luật Người cao tuổi và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, HĐXX phúc thẩm miễn án phí dân sự phúc thẩm cho nguyên đơn và bị đơn.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là bà Bùi Thị P và bị đơn là bà Vũ Thị H1; không chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 07/QĐKNPT-VKS-DS ngày 12/8/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2022/DS-ST ngày 29/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
  2. Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Bùi Thị P và bà Vũ Thị H1.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP. Hải Phòng;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu HS, P. HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Văn Tuyển

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 413/2024/DS-PT ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp thừa kế tài sản và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 413/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà P khởi kiện đề nghị Toà án tuyên hủy các GCNQSD đất, cụ thể: + GCNQSD đất số AQ 211139 do UBND huyện T cấp ngày 30/11/2009 cho hộ bà Vũ Thị H, diện tích 1.965m2 đất, thửa đất số 197; + GCNQSD đất số BD 125958 do UBND huyện T cấp ngày 29/01/2011 cho bà Vũ Thị H, diện tích 1.767m2 đất, thửa đất số 197; + GCNQSD đất số CR 504354 do UBND huyện T cấp ngày 11/3/2019 cho bà Vũ Thị H, diện tích 1.630m2 đất, thửa đất số 197B; + GCNQSD đất số BD 125959 do UBND huyện T cấp ngày 29/01/2011 cho bà Doãn Thị L, diện tích đất 198m2 đất, thửa đất số 197A; + GCNQSD đất số CR 504355 do UBND huyện T cấp ngày 11/3/2019 cho ông Lê Văn Q, diện tích 137m2 đất, thửa đất số 197A. Các thửa đất trên đều thuộc tờ bản đồ số 07, địa chỉ tại thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng. + Yêu cầu Toà án phân chia di sản thừa kế của cụ T và cụ X đối với diện tích 1.965m2 đất, thửa đất số 197, tờ bản đồ số 07; địa chỉ: Xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng cho các đồng thừa kế theo quy định của pháp luật.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger