|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 413/2024/HS-PT Ngày 20 - 5 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Minh
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Nam và ông Bùi Xuân Trọng.
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhật Phương - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Quang Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam. Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 309/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Thanh H và Lã Văn H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.
- Các bị cáo có kháng cáo:
- Nguyễn Thanh H, sinh năm 1965 tại Hà Nam; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn B H, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân D (đã chết) và bà Bùi Thị Đ; có vợ Dương Thị Y và 01 con, sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 25/9/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy”; ngày 22/7/2013, bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị bắt tạm giữ từ ngày 03/8/2023 đến ngày 12/8/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đỗ Thị Hải Q - Luật sư Công ty L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh H. (có mặt)
- Lã Văn H1, sinh năm 1958 tại Hà Nam; nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lã Văn T
và bà Cù Thị V (đều đã chết); có vợ Trịnh Thị N và có 03 con: Lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1987; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19/10/1983, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; ngày 27/8/1998, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam xử phạt 12 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; ngày 08/10/2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 16/5/2011, bị Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi mua ma túy về sử dụng; ngày 19/3/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 19/4/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị bắt tạm giữ từ ngày 01/8/2023 đến ngày 10/8/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lưu Xuân D1 - Luật sư Công ty L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh H. (có mặt)
Trong vụ án còn có 01 bị cáo khác không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 01/8/2023, Cù Văn Đ1, sinh năm 1979, trú tại thôn B, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam đi bộ đến nhà Lã Văn H1 tại thôn A, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam để mua Heroine sử dụng. Khi vào nhà, thấy H1 đang ngồi tại phòng khách, Đ1 hỏi mua 200.000 đồng Heroine nhưng xin nợ tiền, H1 đồng ý rồi đi vào phòng ngủ lấy 01 gói Heroine để ở trên giường đưa cho Đ1. Đ1 hỏi xin H1 cho sử dụng ma túy tại nhà H1 thì H1 đồng ý. Đ1 lấy mảnh giấy bạc và chiếc bật lửa ga có sẵn trên giường để sử dụng gói Heroine vừa mua, Đ1 đổ gói Heroine lên trên mặt mảnh giấy bạc, dùng bật lửa hơ nóng phía dưới rồi hít khói qua mũi đưa vào cơ thể. Sử dụng xong, Đ1 nằm nghỉ trên giường còn H1 đi ra phía ngoài gian bếp của gia đình. Ít phút sau, Lã Văn H2 là con trai của H1 đi vào trong phòng ngủ chỗ Đ1 nằm.
Khoảng 20 giờ cùng ngày, Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1981, trú tại số nhà F phố T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định đến nhà H1 với mục đích đòi Lã Văn H2 số tiền 300.000 đồng H2 nợ trước đó. T1 đi vào trong phòng ngủ nhà H1 gặp H2 và yêu cầu trả nợ nhưng H2 nói chưa có. Biết T1 nghiện ma túy nên H2 lấy 01 gói Heroine mà H1 để sẵn ở trên giường đưa cho T1 với mục đích để trừ hết nợ. T1 hiểu ý nên đã cầm gói Heroine H3 đưa rồi tự lấy mảnh giấy bạc và bật lửa ga ở đó sử dụng bằng hình thức hít tại phòng ngủ nhà H1.
Cũng trong khoảng thời gian này, Lê Gia T2, sinh năm 1992, trú tại thôn M, xã T, huyện B mượn điện thoại di động của một người đi đường gọi vào số điện thoại 0965.089.xxx của H1 nói “Bố ơi, tý con đến”, hiểu ý T2 đến mua ma túy nên H1
đồng ý. Sau đó, T2 cùng với Nguyễn Văn H4 sinh năm 1989, trú tại thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam đi xe ôm của một người không quen biết đến nhà H1. Cả hai đi vào phòng ngủ của H1, lúc này trong phòng có H3, Đ1 và T1, còn H1 đang ở dưới bếp. T2 hỏi mua 200.000 đồng ma túy hồng phiến và 100.000 đồng Heroine, H4 hỏi mua 200.000 đồng Heroine, H3 đồng ý thì T2 và H4 đưa tiền cho H3. H3 cầm tiền và lấy ma túy H1 để sẵn ở trên giường đưa cho T2 và H4. Cả hai xin H3 cho sử dụng ma túy luôn tại đó thì H3 đồng ý. T2 và Hoàng tự lấy giấy bạc, bật lửa ga có sẵn trong phòng và sử dụng ma túy vừa mua được bằng hình thức hít vào cơ thể. Trong lúc T2 và H4 đang sử dụng ma túy thì H1 đi từ dưới bếp lên nhìn thấy nhưng không nói gì. H3 lấy số tiền 500.000 đồng vừa nhận từ T2 và H4 đưa cho H1, biết đây là số tiền H3 vừa bán ma túy cho T2 và H4 nên H1 cầm bỏ vào túi quần đang mặc. Khi các đối tượng đang sử dụng ma túy thì tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh H phát hiện, bắt giữ người cùng đồ vật tài liệu thu giữ gồm:
- Thu trên mặt giường kê trong phòng ngủ của Lã Văn H1:
- + 01 túi nilon trong suốt, miệng túi có kẹp nhựa, viền màu đỏ bên trong có 50 gói giấy bạc màu vàng, trong mỗi gói đều chứa chất màu trắng dạng cục, bột. Tất cả được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.
- + 25 gói giấy bạc màu vàng, trong mỗi gói đều chứa chất màu trắng dạng cục, bột. Tất cả được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT02.
- + 01 túi nilon trong suốt, miệng túi có kẹp nhựa, viền màu trắng bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục, bột, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT03.
- + 01 túi nilon trong suốt, miệng túi có kẹp nhựa viền màu đỏ bên trong có 08 viên nén hình trụ tròn màu đỏ, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT04.
- + 02 túi nilon trong suốt, miệng túi có kẹp nhựa viền màu xanh, bên trong mỗi túi đều có chứa chất tinh thể màu trắng. Tất cả được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT05.
- + 07 mảnh giấy bạc màu trắng đã qua sử dụng; 02 dao lam có chữ Gillette. Tất cả được cho vào 01 túi nilon trong suốt, miệng túi có kẹp nhựa viền màu đỏ niêm phong trong phong bì ký hiệu QT06.
- + 01 điện thoại di động, màu xanh, loại màn hình cảm ứng có chữ VIVO; 01 điện thoại di động màu đen, loại bàn phím có chữ Gold, đều đã qua sử dụng. Tất cả được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT07 - Điện thoại thu giữ của Lã Văn H1”.
- + 01 điện thoại di động màu xanh, loại màn hình cảm ứng, có chữ S1, đã qua sử dụng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT08 - Điện thoại thu giữ của Nguyễn Xuân T1”.
- + 01 điện thoại di động màu đen, loại màn hình cảm ứng có chữ Nokia, đã qua sử dụng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT09 - Điện thoại thu giữ của Lã Văn H2”.
- + 01 điện thoại di động màu vàng, loại màn hình cảm ứng có chữ S, màn hình bị vỡ, đã qua sử dụng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT10 - Điện thoại thu giữ của Cù Văn Đ1”.
- + 01 chai nhựa có nắp đậy màu xanh, 01 lọ nhựa màu trắng hình trụ tròn Tất cả được niêm phong trong hộp giấy, ký hiệu QT11.
- + 02 bật lửa màu vàng, vẫn còn ga, đã qua sử dụng.
- + 01 căn cước công dân mang tên Lã Văn H1.
- Thu trong túi quần phía trước bên phải Lã Văn H1 đang mặc: Số tiền 6.200.000 đồng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT12.
- T3 trong ngăn tủ bên phải kệ ti vi kê phòng khách nhà Lã Văn H1:
- + 01 hộp nhựa hình trụ tròn màu trắng bên trong có 29 túi nilon trong suốt, miệng túi có kẹp nhựa viền màu đỏ, bên trong mỗi túi đều có chứa chất màu trắng dạng cục bột và 01 túi nilon trong suốt, miệng túi buộc nịt, bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục bột. Tất cả được cho vào hộp giấy niêm phong kí hiệu QT13;
- + 09 túi nilon màu xanh, miệng túi có kẹp nhựa, bên trong mỗi túi đều có chứa các viên nén hình trụ tròn màu đỏ. Tất cả được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT14;
- + 01 túi nilon trong suốt, miệng túi có kẹp nhựa, viền màu đỏ, bên trong có 03 túi nilon trong suốt miệng túi có kẹp nhựa viền màu đỏ, bên trong mỗi túi đều có chứa chất tinh thể màu trắng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT15.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lã Văn H1 tại thôn A, xã A, huyện B, tổ công tác phát hiện, thu giữ trong ngăn tủ bên phải kệ tivi kê trong phòng khách nhà Lã Văn H1 số tiền 94.300.000 đồng được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX01 - Tiền thu giữ tại nhà Lã Văn H1”.
Ngày 02/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H tiến hành thu thập các mẫu nước tiểu của Lã Văn H1, Lã Văn H2, Cù Văn Đ1, Nguyễn Xuân T1, Lê Gia T2, Nguyễn Văn H4, được niêm phong trong các chai nhựa trong suốt, nắp màu xanh, có ký hiệu lần lượt NT01, NT02, NT03, NT04, NT05 và NT06.
Tại Cơ quan điều tra, H1 khai số vật chứng bị thu giữ gồm chất màu trắng dạng cục, bột là ma túy Heroine, chất tinh thể màu trắng là ma túy đá và viên nén hình trụ màu đỏ là ma túy hồng phiến; H1 tàng trữ số ma túy này với mục đích để bán và sử dụng. Nguồn gốc số ma túy H5 và hồng phiến do H1 mua của Nguyễn Thanh H, sinh năm 1965, trú tại số nhà A, ngõ D phố Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội; số ma túy đá do H1 mua trong ngày 29/7/2023 của một người đàn ông tại khu vực gần Siêu thị B, thành phố N, tỉnh Nam Định nhưng không biết người này họ tên là gì, ở đâu.
Ngày 03/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Nguyễn Thanh H. Quá trình bắt giữ, đã tạm giữ của H: 01 tờ giấy A4 có ghi nhiều chữ, số và có chữ ký, họ tên của Nguyễn Thanh H; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, màu đen và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu xanh, loại có bàn phím, đều đã qua sử dụng. Tất cả được niêm phong trong phong bì ký hiệu GN01.
- Kết quả khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thanh H tại số nhà A, ngõ D phố Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội thu giữ:
- + Thu trên mặt kệ ti vi kê sát cửa ra vào phòng ở tầng 3 của Nguyễn Thanh H: 01 gói nilon màu xanh hàn kín, mở ra bên trong có 01 gói giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh) bên trong có chứa chất bột màu trắng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu KX01; 01 túi nilon trong suốt, bên trong có 08 mảnh giấy bạc màu trắng hình chữ nhật.
- + Thu trong ngăn kéo phía trên của kệ ti vi kê sát cửa ra vào phòng ở tầng 3 của Nguyễn Thanh H: 29 túi nilon trong suốt đều, miệng túi đều có kẹp nhựa viền màu đỏ, được niêm phong cùng với túi nilon đựng 08 mảnh giấy bạc thu trên mặt kệ ti vi nêu trên trong phong bì ký hiệu KX02.
Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh H ra Quyết định trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh H giám định chất ma túy trong các mẫu nước tiểu và chất màu trắng dạng cục bột, các viên nén hình trụ màu đỏ, chất tinh thể màu trắng đã thu giữ khi bắt và khám xét.
Tại Bản kết luận giám định số 513/KL-KTHS ngày 09/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận:
- - Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong các mẫu nước tiểu ký hiệu NT01, NT02, NT03, NT04, NT05, NT06 gửi giám định.
- - Tìm thấy chất Morphine trong các mẫu nước tiểu ký hiệu NT03, NT04, NT05, NT06 gửi giám định.
- - Tìm thấy chất Codeine trong các mẫu nước tiểu ký hiệu NT05, NT06 gửi giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 512/KL-KTHS ngày 09/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận:
“Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 4,897g loại: Heroine;
Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT02 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,368g loại: Heroine;
Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT03 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 6,637g loại: Heroine;
Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu QT04 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,787g loại: Methamphetamine;
Mẫu tinh thể trong phong bì ký hiệu QT05 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,625g loại: Methamphetamine;
07 mảnh giấy bạc màu trắng, không rõ hình dáng, bị nhiệt hóa một phần; 01 chiếc dao lam trắng, nhan hiệu Gillette trong phong bì ký hiệu QT06 gửi giám định có bám dính ma túy loại: Heroine;
Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT13 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 201,992g loại: Heroine;
Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu QT14 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 129,002g loại: Methamphetamine;
Mẫu tinh thể trong phong bì ký hiệu QT15 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 6,603g loại: Methamphetamine;
Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu KX01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,452g loại: Heroine”.
Tại cơ quan điều tra, Lã Văn H1 và Nguyễn Thanh H khai nhận quen biết nhau từ năm 2016, 2017 do cùng chấp hành án phạt tù tại Trại giam N1, sau khi ra trại cả hai tiếp tục giữ liên lạc với nhau và H đã nhiều lần mang ma túy đến nhà H1 tại thôn A, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam để bán cho H1, cụ thể là:
- - Ngày 09/7/2023, Nguyễn Thanh H bán cho Lã Văn H1 02 cây ma túy, loại Heroine có khối lượng 75g với giá 56.000.000 đồng.
- - Ngày 10/7/2023, H bán cho H1 02 đàn ma túy hồng phiến (Methamphetamine) = 400 viên với giá 16.000.000 đồng
- - Ngày 13/7/2023, H bán cho H1 06 đàn ma túy hồng phiến (Methamphetamine) = 1.200 viên, tương đương khối lượng 108g với giá 48.000.000 đồng.
- - Ngày 17/7/2023, Nguyễn Thanh H bán cho Lã Văn H1 05 đàn ma túy hồng phiến = 1000 viên với giá 40.000.000 đồng.
Các lần mua bán ma túy này, H1 đều trả cho H bằng tiền mặt. Sau khi mua được ma túy của H thì H1 đã bán lại cho các đối tượng khác để kiếm lời.
Khoảng giữa tháng 7/2023, H1 dùng điện thoại có số thuê bao 0965089276 gọi đến số thuê bao 0981313378 của H hỏi mua 01 bánh Heroine và 15 đàn ma túy hồng phiến (3000 viên). Hải báo giá cho H1 là 160.000.000 đồng (gồm 01 bánh heroine giá 120.000.000 đồng, 15 đàn ma túy hồng phiến giá 40.000.000 đồng) và yêu cầu H1 chuyển khoản trước cho H số tiền 50.000.000 đồng, đồng thời bảo H1 cùng đi lên huyện S, tỉnh Sơn La để mua ma túy. Những ngày sau đó H1 đã dùng số tài khoản Ngân hàng V1 107561546666 của H1 chuyển tiền vào số tài khoản Ngân hàng T5 8855313378 của H nhiều lần, tổng số 50.000.000 đồng. Đến ngày 23/7/2023, H bảo
H1 mang theo 110.000.000 đồng lên Hà Nội để cùng H đi mua ma túy. Huệ bắt xe khách đi từ xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam lên bến xe N ở thành phố Hà Nội và được H đi xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển kiểm soát 18P9 - 9878 đến đón. H bảo H1 đưa số tiền 110.000.000 đồng cho H rồi chở H1 đi sang bến xe Y, thành phố Hà Nội, cả hai lên xe ô tô khách và gửi xe mô tô theo xe khách cùng đi lên huyện S, tỉnh Sơn La. Khoảng 05 giờ ngày 24/7/2023 thì tới nơi, cả hai xuống xe khách rồi H lấy xe mô tô biển kiểm soát 18P9 – 9878 chở H1 đi đến một khu vực (không xác định được cụ thể địa giới hành chính). H1 đứng ở ngoài chờ còn H đi vào một ngôi nhà gặp một người đàn ông (theo H khai trước đó đã có lần mua ma túy của người này, nhưng không biết tên, tuổi). H hỏi mua 02 bánh heroine và 30 đàn ma túy hồng phiến thì được người đàn ông này báo giá là 320.000.000 đồng và bớt cho H 10.000.000 đồng. H lấy ra 240.000.000 đồng đưa cho người này và xin nợ lại 70.000.000 đồng. Người đàn ông đồng ý cầm tiền H đưa rồi đi đâu đó đến khoảng 11 giờ cùng ngày quay về đưa cho H một bọc được quấn nhiều lớp băng dính màu trắng. H cầm bọc này cất vào cốp xe mô tô của H rồi chở H1 ra bắt xe ô tô khách đi về Hà Nội. Khi về đến nhà H ở số nhà A, ngõ D phố Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội, cả hai đi lên phòng ngủ ở tầng 3, H mở bọc vừa mua được của người đàn ông ra, bên trong có 02 bánh Heroine và 30 đàn ma túy hồng phiến. H đưa H1 01 bánh heroine và 15 đàn ma túy hồng phiến thì H1 hỏi mua thêm 05 đàn ma túy hồng phiến của H với giá 8.000.000 đồng/01 đàn và bảo H cho nợ tiền. Sau đó, H1 cầm toàn bộ số ma túy mua được gồm 01 bánh heroin và 20 đàn ma túy hồng phiến mang về cất giấu tại nhà H1. Những ngày sau đó, H và H1 đã phân nhỏ số ma túy mua được của người đàn ông ở huyện S, tỉnh Sơn La để bán cho một số người, số còn lại bị cơ quan điều tra thu giữ. Trong đó tài liệu điều tra đã xác định được vào khoảng 19 giờ ngày 31/7/2023, Lã Văn H1 bán cho Lê Gia T2 3.800.000 đồng Heroine, bán cho Nguyễn Văn H4 200.000 đồng ma túy hồng phiến và cho hai người này sử dụng ma túy bằng hình thức hít ngay tại nhà ở của H1.
Cơ quan điều tra đã tiến hành khai thác dữ liệu điện tử trên các điện thoại thu giữ của Nguyễn Thanh H, Lã Văn H1 và đề nghị Ngân hàng V1, Ngân hàng T5 cung cấp sao kê các tài khoản ngân hàng của hai đối tượng. Kết quả khai thác dữ liệu điện tử xác định: Trên điện thoại thu giữ của Lã Văn H1 không thể hiện các cuộc gọi đi, gọi đến từ số máy của Nguyễn Thanh H (Huệ xác định sau khi gọi điện liên lạc với H xong đã xóa danh sách cuộc gọi). Điện thoại của Nguyễn Thanh H có thể hiện một số cuộc gọi thoại từ số máy của Lã Văn H1. Tiến hành rút list điện thoại thể hiện các ngày 10, 13, 14, 21, 23/7/2023 có cuộc gọi đi đến giữa hai số thuê bao nói trên. H1, H khai nhận trong số các cuộc gọi đó có cuộc gọi liên quan đến việc giao dịch mua, bán ma túy nhưng không nhớ chính xác cuộc gọi nào.
Kết quả sao kê các tài khoản ngân hàng của Lã Văn H1 và Nguyễn Thanh H thể hiện tài khoản Ngân hàng V1 107561546666 của H1 chuyển tiền vào số tài khoản
Ngân hàng T5 8855313378 của H trong các ngày 19, 21, 23 và 26/7/2023 với tổng số tiền 50.000.000 đồng.
Tại Công văn số 3113/C09-TT2 ngày 03/11/2023 của V2 Bộ C về tính khối lượng chất ma túy đã trả lời: Đối với các khái niệm “cây”, “chỉ” là cách gọi “lóng” của tội phạm ma túy, do đó không có căn cứ để quy đổi khối lượng 01 “cây”, 01 “chỉ” bằng bao nhiêu gam (kilôgam); Qua công tác giám định tại C09, 01 (Một) viên nén màu hồng, kích thước 6mm x 3mm (chứa chất ma túy Methamphetamine), thường gọi là viên hồng phiến có khối lượng khoảng 0,09gam.
Tại Công văn số 2860/C09-TT2 ngày 11/10/2023 của V2 Bộ C về tính khối lượng chất ma túy đã trả lời: Căn cứ vào Kết luận giám định trong các vụ án điển hình có thu giữ số lượng lớn bánh ma túy Heroine đã giám định trong năm 2022 và khoảng tháng 7/2023 thì khối lượng của các bánh ma túy Heroine dao động trong khoảng từ 301,0gam đến 350,0gam.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam đã quyết định:
Áp dụng điểm h khoản 4 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 40; Điều 50 Bộ luật Hình sự; khoản 4 Điều 329, điểm d khoản 1 Điều 367 Bộ luật Tố tụng hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thanh H.
Áp dụng điểm h khoản 4 và khoản 5 Điều 251; điểm b, d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 40; Điều 50; điểm d khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự; khoản 4 Điều 329, điểm d khoản 1 Điều 367 Bộ luật Tố tụng hình sự đối với bị cáo Lã Văn H1.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 và khoản 5 Điều 251; điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lã Văn H2.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án đối với các bị cáo.
1. Tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; các bị cáo Lã Văn H1 và Lã Văn H2 phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Thanh H: Tử hình.
Bị cáo Lã Văn H1 tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 09 (chín) năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp phình phạt của hai tội, buộc bị cáo Lã Văn H1 phải chấp hành hình phạt chung là Tử hình.
Bị cáo Lã Văn H2 08 (T4) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 08 (T4) năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp phình phạt chung của hai tội, buộc bị cáo Lã Văn H2 phải chấp hành chung là 16 (Mười sáu) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 03/8/2023.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo Nguyễn Thanh H và Lã Văn H1 để đảm bảo thi hành án.
Trong thời hạn 07, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, các bị cáo Nguyễn Thanh H và Lã Văn H1 có quyền làm đơn gửi Chủ tịch nước Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để xin ân giảm án Tử hình.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 30/01/2024 và ngày 05/02/2024, các bị cáo Nguyễn Thanh H và Lã Văn H1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh H trình bày: Nhất trí với tội danh và điều khoản như quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bên cạnh đó, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc điều tra tội phạm; ngoài ra bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn, có bố đẻ và anh trai được tặng thưởng H6, Huy chương kháng chiến chống Mỹ, Huân chương chiến sĩ vẻ vang (những tài liệu này hiện không còn vì đã bị thất lạc); hiện bị cáo đang bị bệnh ung thư trực tràng, vợ bị cáo ốm đau triền miên. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng quy định tại điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét giảm mức hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án chung thân.
Người bào chữa cho bị cáo Lã Văn H1 trình bày: Nhất trí về tội danh và điều khoản như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều nhất trí với lời bào chữa của các Luật sư và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Đơn kháng cáo của các bị cáo gửi trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thanh H và Lã Văn H1, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Thanh H và Lã Văn H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm. Lời khai của các bị cáo còn được chứng minh bởi các lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ khẳng định: Trong thời gian tháng 7/2023, bị cáo Nguyễn Thanh H đã nhiều lần đến nhà bị cáo Lã Văn H1 ở thôn A, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam bán trái phép chất ma túy cho bị cáo H1. Sau khi mua được ma túy, bị cáo H1 đã sử dụng và bán lại cho những người khác để kiếm lời. Cụ thể: Ngày 09/7/2023, H đã bán cho H1 02 cây ma túy, loại Heroine có khối lượng 75g với giá 56.000.000 đồng; ngày 10/7/2023, H bán cho H1 02 đàn ma túy hồng phiến (Methamphetamine) = 400 viên, tương đương khối lượng 36g với giá 16.000.000 đồng; ngày 13/7/2023, H bán cho H1 06 đàn ma túy hồng phiến (Methamphetamine) = 1.200 viên, tương đương khối lượng 108g với giá 48.000.000 đồng; ngày 17/7/2023, H bán cho H1 05 đàn ma túy hồng phiến (Methamphetamin) = 1000 viên, tương đương khối lượng 90g với giá 40.000.000 đồng. Ngày 24/7/2023, H và H1 cùng đi lên huyện S, tỉnh Sơn La; bị cáo H đã mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ 02 bánh Heroine có khối lượng tối thiểu là 602g và 30 đàn ma túy hồng phiến (Methamphetamine) = 6000 viên, tương đương khối lượng 540g, trong đó có 01 bánh Heroine và 15 đàn hồng phiến theo đặt hàng của bị cáo H1 rồi cùng H1 mang về chia nhau; sau đó, H1 mua lại của H 05 đàn ma túy hồng phiến (Methamphetamine) = 1000 viên, tương đương khối lượng 90g. Ngoài ra ngày 29/7/2023, bị cáo H1 còn mua của một người đàn ông tại T 7,228g ma túy đá (Methamphetamine).
Như vậy, bị cáo Nguyễn Thanh H đã mua bán tổng số 1.451g ma túy, gồm: 677g Heroine và 774g Methaphetamine, trong đó bán cho bị cáo Lã Văn H1 376g Heroine và 594g Methaphetamine; bị cáo Nguyễn Thanh H còn bán ma túy cho các đối tượng khác nhưng không nhớ tên tuổi, địa chỉ.
Bị cáo Lã Văn H1 đã mua bán tổng số 977,228g ma túy, gồm: 376g H và 601,228g Methamphetamine, trong đó mua của bị cáo H 376g Heroine và 594g Methaphetamine, mua của một người không rõ tên tuổi, địa chỉ tại thành phố N 7,288g ma túy M. Sau khi mua được ma túy, bị cáo H1 đã chia nhỏ ra để bán cho các đối tượng khác kiếm lời, trong đó xác định được: Khoảng 19 giờ ngày 31/7/2023, bị cáo H1 bán cho Lê Gia T2 ma túy Heroine với số tiền 3.800.000đồng và bán cho Nguyễn Văn H4 ma túy Methamphetamine với số tiền 200.000đồng; Khoảng 19h ngày 01/8/2023, bị cáo H1 bán cho Cù Văn Đ1 ma túy Heroine với số tiền 200.000đồng, bán cho Lê Gia Tú H7 và Methamphetamine với số tiền 300.000đồng, bán cho Nguyễn Văn H4 ma túy Heroine với số tiền 200.000đồng. Sau khi bán ma túy, bị cáo H1 đã đồng ý cho các đối tượng này sử dụng ma túy ngay tại nhà ở của bị cáo.
Quá trình bắt giữ, khám xét nơi ở của các đối tượng, Cơ quan điều tra thu giữ 215,894g ma túy, loại Heroine; 137,017g ma túy, loại Methamphetamine của bị cáo Lã Văn H1; thu giữ 0,452g ma túy loại Heroine của bị cáo Nguyễn Thanh H.
Với các hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử: Bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lã Văn H1 phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 và điểm b, d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn tại địa phương. Là nguyên nhân chính có thể làm phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần phải xét xử thật nghiêm minh, mới có tác dụng giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung trong toàn xã hội.
[2.3] Xét vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm mang tính giản đơn. Các bị cáo phạm tội độc lập nên chịu trách nhiệm độc lập về hành vi phạm tội của các bị cáo.
[2.4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy:
Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân rất xấu, đều đã bị kết án về các tội phạm liên quan đến ma túy.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Thanh H, Lã Văn H1 đều phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Việc người bào chữa cho rằng bị cáo H không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật
Hình sự là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thanh H và Lã Văn H1 đều thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lã Văn H1 có bố đẻ là ông Lã Văn T được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ và có anh trai là Lã Anh Đ2 được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ, Huân chương chiến sĩ vẻ vang nên bị cáo H1 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Việc người bào chữa cho bị cáo H trình bày, bị cáo có bố đẻ và anh trai được tặng thưởng H6, Huy chương kháng chiến chống Mỹ, Huân chương chiến sĩ vẻ vang, nhưng không xuất trình được tài liệu để chứng minh vì cho rằng đã bị thất lạc nên không có cơ sở để xem xét.
[2.5] Hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Thanh H và Lã Văn H1 là đặc biệt nghiêm trọng, khối lượng ma túy lớn, các bị cáo có nhân thân rất xấu, nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét đầy đủ. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhất, loại bỏ vĩnh viễn các bị cáo Nguyễn Thanh H và Lã Văn H1 ra khỏi đời sống xã hội về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng pháp luật. Ngoài ra, đối với bị cáo H1 còn bị Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt 09 (chín) năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” là tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, không nặng.
[2.6] Từ những phân tích, nhận định nêu trên thấy, tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không có tài liệu, chứng cứ mới để xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo; ý kiến trình bày của các Luật sư không phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, cần giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, xử:
[1] Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thanh H và Lã Văn H1. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.
Áp dụng điểm h khoản 4 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 40; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H Tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm h khoản 4 và khoản 5 Điều 251; điểm b, d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 40; Điều 50; điểm d khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lã Văn H1 Tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 09 (chín) năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Lã Văn H1 phải chấp hành hình phạt chung là Tử hình.
Áp dụng khoản 4 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam các bị cáo Nguyễn Thanh H và Lã Văn H1 để bảo đảm thi hành án.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Thanh H và Lã Văn H1 có quyền làm đơn gửi Chủ tịch nước Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để xin ân giảm án Tử hình.
[2] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3] Án phí: Các bị cáo Nguyễn Thanh H và Lã Văn H1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quang Minh |
Bản án số 413/2024/HS-PT ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 413/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh H + đp phạm tội
