|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 413/2025/HS-ST Ngày: 13-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tùng
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Phạm Văn Phước;
- - Ông Nguyễn Văn Phòng.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Kim Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lữ Ngọc Mai – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 291/2025/HSST ngày 28 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 364/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 75/2025/QĐST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Đào Văn S (Tên gọi khác: Không có); Sinh năm: 1980 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi Đăng ký hộ khẩu thường trú: 7.06 Khối E, Lô J chung cư 17.3ha, Khu phố B, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Đào Văn G, sinh năm 1958 và bà Trần Thị Ngọc Đ, sinh năm 1961; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:
- - Bị Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản của công dân” theo Bản án số 924/HSST ngày 09/6/1997, đã chấp hành xong hình phạt tù và đóng án phí hình sự sơ thẩm; + Bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 320/HSST ngày 30/11/2001, đã chấp hành xong hình phạt tù và đóng án phí hình sự sơ thẩm; + Bị Toà án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Bản án số 80/2008/HSST ngày 06/8/2008, đã chấp hành xong hình phạt tù và đóng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Bị Ủy ban nhân dân Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng thời gian cai nghiện bắt buộc 24 tháng theo Quyết định về việc đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 3717/QĐ-UBND-LĐTBXH ngày 23/3/2010, đã chấp hành xong thời gian cai nghiện bắt buộc; + Bị Toà án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng thời gian cai nghiện bắt buộc 24 tháng theo Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 49/QĐ-TA ngày 30/7/2015, đã chấp hành xong thời gian cai nghiện bắt buộc; + Bị Toà án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng thời gian cai nghiện bắt buộc 18 tháng theo Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 294/2018/QĐ-TA ngày 27/9/2018, đã chấp hành xong thời gian cai nghiện bắt buộc; + Bị Toà án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng thời gian cai nghiện bắt buộc 21 tháng theo Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 181/2021/QĐ-TA ngày 04/5/2021,đã chấp hành xong thời gian cai nghiện bắt buộc.
Đã tạm giam từ ngày 15/8/2024.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Ngô Mỹ T, sinh năm: 2001; Nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; Nơi ở: E đường B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 6 giờ 45 phút, ngày 12/8/2024, Do cần tiền tiêu xài nên Đào Văn S điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave màu đỏ đen, biển số 59B-474.20 chạy vòng quanh khu vực đường N thuộc phường P để kiếm tài sản trộm cắp thì thấy chị Ngô Mỹ T dựng xe mô tô hiệu Honda Vario màu trắng biển số 59XB-463.52 trước nhà số G, đường N, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, trên baga xe của chị T có treo một chiếc túi xách màu đen. Lợi dụng lúc chị T không để ý, S xuống xe đi bộ tới gần xe của chị T rồi dùng tay trái lấy trộm túi xách đang treo trên baga xe rồi lên xe mô tô của S chạy thoát về hướng phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi tới bãi đất trống tại ngã ba đường L và đường E, phường T, S dừng lại kiểm tra bên trong túi xách có tiền mặt 25.850.000 đồng (nhiều mệnh giá) cùng 02 nhẫn vàng, 01 cuốn tập học sinh, 01 CCCD mang tên Ngô Mỹ T, 01 CCCD mang tên Lê Quang P, 01 thẻ ATM ngân hàng S1 (ngoài ra, còn có số tiền 2.400.000 đồng chị T để trong ngăn kéo bên trong túi xách nên S không phát hiện). Sau đó, S lấy 25.850.000 đồng và 02 nhẫn vàng bỏ vào người và ném lại túi xách (bên trong còn 2.400.000 đồng để trong ngăn kéo cùng các giấy tờ, vật dụng còn lại) tại bãi đất trống. Sau đó, S điều khiển xe mô tô của mình đến trước số A, đường T, Phường A, Quận D để mua hai tép ma túy loại Heroin với giá 1.200.000 đồng của một thanh niên (không rõ lai lịch) và mang về nhà mẹ của S tại Khu A, ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai sử dụng một mình hết. S đã sử dụng 4.000.000 đồng trả nợ cho một thanh niên (không rõ lai lịch) và dùng 800.000 đồng tiêu xài cá nhân, còn lại số tiền 19.850.000 đồng.
Sau khi phát hiện bị mất tài sản, Chị T đã đến Công an phường P trình báo. Ngày 15/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Lệnh Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Đào Văn S. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Đào Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản Kết luận định giá tài sản số 198-KV2/KLĐG-HĐĐGTS ngày 07/10/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 02 (hai) nhẫn bằng vàng loại 18k, trọng lượng 01 chỉ, trị giá: 3.525.245 đồng (Ba triệu, năm trăm hai mươi lăm nghìn, hai trăm bốn mươi lăm đồng).
Ngày 04/12/2024, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T có văn bản số 253-KV2/HĐĐGTS về việc từ chối định giá 01 (một) cuốn tập học sinh hiệu ABC, chữ viết bị nhoè, đã bị hư hỏng; 01 (một) túi xách màu đen (không rõ nhãn hiệu), có dây đeo được bọc dây kim loại, đã bị hư hỏng, không có các hoá đơn, chứng từ, chất liệu, xuất xứ nguồn gốc, thông số kỹ thuật, không xác định được tình trạng sử dụng của túi xách.
* Vật chứng vụ án:
- - 01 (một) Thẻ ATM mang tên Đào Văn S; - 01 (một) Điện thoại di động hiệu Samsung Note 8 màu vàng, đã qua sử dụng của Đào Văn S; - 01 (một) Xe mô tô hiệu Honda Wave S, biển số 59B1-474.20, đã qua sử dụng của Đào Văn S; - 01 (một) Nón bảo hiểm màu xanh có 03 sọc màu trắng và 02 đường kẻ màu xanh đen, đã qua sử dụng của Đào Văn S; - 01 (một) Áo khoác màu xanh lá, đã qua sử dụng của Đào Văn S; - 01 (một) Quần tây dài màu xanh dương, đã qua sử dụng của Đào Văn S; - 01 (một) Đôi giày tây màu đen, đã qua sử dụng của Đào Văn S; - 01 (một) Áo màu xám có lô gô bảo vệ ABO, đã qua sử dụng của Đào Văn S. - Số tiền 22.250.000 đồng (hai mươi hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) do Ngân hàng N phát hành; - 01 (một) nhẫn bằng kim loại màu vàng, mặt vuông có khắc chữ, đã bị gãy; - 01 (một) nhẫn bằng kim loại màu vàng có đính nhiều hạt hai bên, không có hạt ở giữa; - 01 (một) cuốn tập học sinh hiệu ABC, đã bị hư hỏng, chữ viết bên trong nhoè; - 01 (một) Căn cước công dân tên Ngô Mỹ T; - 01 (một) Căn cước công dân tên Lê Quang P; - 01 (một) túi xách màu đen, có dây đeo được bọc dây kim loại, đã bị hư hỏng.
* Về trách nhiệm dân sự: Tại Biên bản trả lại tài sản, đồ vật ngày 07/11/2024, bị hại Ngô Mỹ T đã nhận lại tài sản bị mất trộm bao gồm 22.250.000 đồng (Hai mươi hai triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng); 02 (hai) nhẫn bằng vàng; 01 (một) cuốn tập học sinh hiệu ABC, đã bị hư hỏng; 01 (căn cước công dân tên Ngô Mỹ T; 01 (một) Căn cước công dân tên Lê Quang P; 01 (một) túi xách màu đen, có dây đeo được bọc dây kim loại, đã bị hư hỏng, bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Cáo trạng số 286/CT-VKS-TPTĐ ngày 26/4/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Đào Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 xử phạt bị cáo Đào Văn S từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
- - Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu, có thái độ khai báo đầy đủ, thành khẩn và xin xem xét giảm nhẹ.
- - Bị hại Ngô Mỹ T có đơn xin xử vắng mặt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Đào Văn S tại phiên tòa phù hợp với nội dung: Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm ngày 12/8/2024; Biên bản làm việc ngày 13/8/2025 của Đội Điều tra tổng hợp Công an thành phố T; Biên bản làm việc ngày 12/8/2025 về việc xác định địa điểm vụ trộm cắp tài sản ngày 12/8/2024 và Biên bản làm việc ngày 12/8/2025 về việc xác định địa điểm vứt túi xách ngày 12/8/2024; Sơ đồ nơi xảy ra vụ việc ngày 12/8/2024; Các Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu của Đào Văn S; Lời khai của bị hại Ngô Mỹ T; Kết luận định giá tài sản số 198-KV2/KLĐG-HĐĐGTS ngày 07/10/2024 của Hội đồng định giá - Ủy ban nhân dân Thành phố T; Văn bản số số 253-KV2/HĐĐGTS ngày 04/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản - Ủy ban nhân dân Thành phố T; Cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 6 giờ 45 phút, ngày 12/8/2024 tại trước nhà số G, đường N, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đào Văn S đã lén lút chiếm đoạt 01 túi xách của chị Ngô Mỹ T, bên trong có: Số tiền 25.850.000 (hai mươi lăm triệu, tám trăm năm mươi nghìn) đồng Việt Nam; 02 (hai) nhẫn bằng vàng loại 18k, trọng lượng 01 chỉ, trị giá: 3.525.245 (ba triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn hai trăm bốn mươi lăm) đồng; 01 cuốn tập học sinh, 01 CCCD mang tên Ngô Mỹ T, 01 CCCD mang tên Lê Quang P, 01 thẻ ATM ngân hàng S1, ngoài ra còn có 2.400.000 đồng chị T để trong ngăn kéo bên trong túi xách mà S không phát hiện. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 31.775.245 (Ba mươi mốt triệu, bảy trăm bảy mươi lăm ngàn, hai trăm bốn mươi lăm) đồng. Là bị cáo Đào Văn S đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” trong trường hợp “trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Bị cáo Đào Văn S là đối tượng hình sự và nghiện ma túy, đã nhiều lần bị xử phạt tù về tội chiếm đoạt tài sản và nhiều lần bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc nên biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là sai trái và bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc, nhưng do tham lam muốn có tiền thỏa mãn các nhu cầu thấp kém của bản thân nên đã bất chấp, cố ý thực hiện việc lén lút chiếm đoạt túi xách của chị Ngô Mỹ T, bên trong đó có tài sản trị giá tổng cộng 31.775.245 (Ba mươi mốt triệu, bảy trăm bảy mươi lăm ngàn, hai trăm bốn mươi lăm) đồng và một số giấy tờ tùy thân. Hành vi trộm cắp tài sản do Đào Văn S thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ và ảnh hưởng xấu đến cuộc sống bình thường của người dân xung quanh. Xét bị cáo Đào Văn S có nhân thân rất xấu, đã thực hiện hành vi phạm tội có tính chất cố ý cao, táo bạo, tài sản bị chiếm đoạt có giá trị. Tuy nhiên, cũng xét bị cáo Đào Văn S đã nhận tội khai báo đầy đủ, tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi phần lớn và giao trả cho bị hại. Do đó, khi quyết định hình phạt, căn cứ Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, cần áp dụng Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định khung hình phạt phải áp dụng, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có hình phạt tù nghiêm và tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét đề nghị của Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù các tình tiết của vụ án, quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã được nhận lại phần lớn tài sản bị chiếm đoạt và ngày 28/4/2025 đã có đơn không yêu cầu được bồi thường thêm. Nghĩ nên ghi nhận sự tự nguyện của bị hại và Tòa án không phải giải quyết về bồi thường cho bị hại.
[6] Vật chứng vụ án:
- - 01 (một) Thẻ ATM mang tên Đào Văn S và 01 (một) Điện thoại di động hiệu Samsung Note 8 màu vàng đã qua sử dụng của Đào Văn S, không liên quan đến việc thực hiện tội phạm. Nên nghĩ giao trả cho Đào Văn S; - 01 (một) Xe mô tô hiệu Honda Wave S, biển số 59B1-474.20, thuộc sở hữu của Đào Văn S, liên quan trực tiếp đến thực hiện tội phạm, nên nghĩ tịch thu sung ngân sách nhà nước; - 01 (một) Nón bảo hiểm màu xanh có 03 sọc màu trắng và 02 đường kẻ màu xanh đen, 01 (một) Áo khoác màu xanh lá, 01 (một) Quần tây dài màu xanh dương, 01 (một) Đôi giày tây màu đen, 01 (một) Áo màu xám có lô gô bảo vệ ABO đã qua sử dụng là trang phục của Đào Văn S sử dụng trong khi thực hiện tội phạm, không còn giá trị sử dụng và Đào Văn S không có nhu cầu nhận lại. Nghĩ nên tịch thu tiêu hủy.
- - Số tiền 22.250.000 đồng (hai mươi hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) do Ngân hàng N phát hành; 01 (một) nhẫn bằng kim loại màu vàng, mặt vuông có khắc chữ, đã bị gãy; 01 (một) nhẫn bằng kim loại màu vàng có đính nhiều hạt hai bên, không có hạt ở giữa; 01 (một) cuốn tập học sinh hiệu ABC, đã bị hư hỏng, chữ viết bên trong nhoè; 01 (một) CCCD tên Ngô Mỹ T; 01 (một) CCCD tên Lê Quang P; 01 (một) túi xách màu đen, có dây đeo được bọc dây kim loại, đã bị hư hỏng. Ngày 07/11/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại, đồ vật này cho bà Ngô Thị T1 là phù hợp và không xem xét thêm.
[5] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố: bị cáo Đào Văn S phạm Tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng Khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điều 50, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Đào Văn S 02 (H) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/8/2024.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- - Giao trả Đào văn Sơn: 01 (một) Thẻ ATM mang tên Đào Văn S và 01 (một) Điện thoại di động hiệu Samsung Note 8 màu vàng đã qua sử dụng
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave S, biển số 59B1-474.20;
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) Nón bảo hiểm màu xanh có 03 sọc màu trắng và 02 đường kẻ màu xanh đen, 01 (một) Áo khoác màu xanh lá, 01 (một) Quần tây dài màu xanh dương, 01 (một) Đôi giày tây màu đen, 01 (một) Áo màu xám có lô gô bảo vệ ABO đã qua sử dụng.
(Tài sản giao trả, tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước, tịch thu tiêu hủy được ghi trong Phiếu Nhập kho ngày 21/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức )
- Áp dụng Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Xuân Tùng |
Bản án số 413/2025/HS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 413/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
