TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————— |
Bản án số: 413/2024/HS-PT Ngày: 19/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Công Huấn.
Các Thẩm phán:
- Ông Nguyễn Văn Hậu.
- Ông Nguyễn Tuấn Anh.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Huy Phúc, thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Khanh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, số A đường N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 380/2024/HS-PT ngày 28/10/2024 đối với bị cáo Nguyễn Thụy Bích L, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5761/2024/QĐXXPT-HS ngày 30/10/2024, do có kháng cáo của bị hại Đặng Thị Kiêm T đối với bản án sơ thẩm số 278/2024/HS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo bị kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thụy Bích L, sinh năm 1985 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: 130 T, Khu phố C, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị X (chết);
Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
- Ngày 14/11/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh khởi tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
- Ngày 17/6/2011, bị Công an quận T xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc (đã chấp hành xong);
Bắt, tạm giam: 13/11/2023 (trong 01 vụ án khác);
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Đương sự kháng cáo:
Bị hại: Bà Đặng Thị Kiêm T, sinh năm 1984; nơi đăng ký thường trú: 46 đường N, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt;
Người có liên quan đến kháng cáo: Ông Nguyễn Văn C; sinh năm 1975; nơi cư trú: 1 đường N, Khu phố C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 00 ngày 12/11/2022, bị cáo Nguyễn Thụy Bích L cùng 03 người bạn là T1, N, U (đều chưa rõ lai lịch) ngồi uống nước tại quán cà phê không tên, hẻm S đường V, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, L kể cho T1, N và U nghe việc việc 02 người con của bị cáo là Nguyễn Hoàng A, Nguyễn Hoàng P đang sống chung với cha ruột là ông Nguyễn Văn C và mẹ kế là bà Đặng Thị Kiêm T tại nhà 1 N, khu phố A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình sống chung, P và A bị đối xử không tốt. Đồng thời, L nhờ T1, N, U cùng với L đi đến nhà bà T để đón P và Anh về. T1, N và U đồng ý. Sau khi thống nhất, cả bốn người dùng xe mô tô Honda Vision biển kiểm soát 59D1-452.43 của L và 01 xe mô tô Yamaha Luvias (không rõ biển số) chở nhau đi đến nhà bà T. Khoảng 12 giờ cùng ngày, khi đến nhà của T, L đứng trước nhà gọi “Hơi H” (H là tên gọi khác của T) nhưng không thấy ai trả lời. Lúc này, thấy cửa nhà không khóa nên L, T1, N, U đi vào trong nhà. Nghe tiếng mở cửa, T từ trên lầu đi xuống và gặp L, N, U, T1 ở khu vực nhà bếp. Tại đây, L, N, U và T có lời qua tiếng lại và lớn tiếng cãi vã với nhau. Trong lúc cãi nhau, T di chuyển từ khu vực nhà bếp đến khu vực nhà trên nơi đặt bàn thờ cúng. L, N, U đi theo và liên tục lớn tiếng cãi nhau với T, dồn T vào góc tường nơi đặt bàn thờ, cúng, thì dùng điện thoại di động ghi hình lại. T dùng tay lấy 03 ly nước cúng bằng thủy tinh trên bàn thờ ném về phía L, N, U và 01 cái ly trúng vào mặt L gây thương tích chảy máu ở vị trí mí mắt trên bên trái. Lập tức, L dùng tay túm tóc T đánh lại và đè T xuống sàn nhà, U và N tháo mũ bảo hiểm đang đội trên đầu, dùng nón bảo hiểm đánh vào người T, T vùng dậy, bỏ chạy ra ngoài, tri hô. L, N, U và T1 đi ra ngoài, điều khiển xe máy chở nhau chạy đi.
Sau khi sự việc xảy ra, vào ngày 09/12/2022, bà T đến Công an phường B, quận B trình báo sự việc và có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với L cùng N, U, T1.
Ngày 19/4/2023, bị cáo L có đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với bà T.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu thập được hình ảnh liên quan đến vụ án được lưu giữ trong 01 USB hiệu Kingston dung lượng 02G (kèm theo hồ sơ vụ án).
Căn cứ Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 241/KLTTCT-TTPY.2023 ngày 13/4/2023 của Trung tâm P1 - Sở y tế Thành phố H đối với bà Đặng Thị Kiêm T, xác định được như sau:
- Đa chấn thương phần mềm đã được điều trị, hiện không sưng nề vùng đầu, ngực (nghĩ nhiều do vật tày tác động gây ra); không còn dấu vết thương tích ngón IV tay trái; tỷ lệ tổn thương cơ thể là 00%; không đủ cơ sở xác định hung khí gây ra các tổn thương đã nêu.
- Còn một vết tăng sắc tố vùng trước tai trái kích thước 1,1x0,1cm, có tỷ lệ tổn thương là 01%; còn 01 sẹo đốt xa ngón tay V bàn tay trái kích thước 0,8x0,1cm, có tỷ lệ tổn thương 01%; các thương thương tích vừa nêu do vật có cạnh tác động gây ra.
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Đặng Thị Kiêm T tại thời điểm giám định là 02%.
- Tất cả các thương tích đã nêu trên không gây nguy hiểm đến tính mạng.
Căn cứ Kết luận giám định bổ sung trên cơ thể người sống số 241.B/KLTTCT-TTPY.2023 ngày 04/01/2024 của Trung tâm P1 - Sở y tế Thành phố H đối với bà Đặng Thị Kiêm T, xác định được như sau:
- Không có cơ sở trả lời vùng trọng yếu và chiều hướng vết thương;
- Hành vi dùng tay không và nón bảo hiểm tác động vào cơ thể như hình ảnh camera Cơ quan điều tra cung cấp thì đều có thể gây ra được các chấn thương như đã giám định trừ ngón IV tay trái.
Căn cứ Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 341/KLTTCT-TTPY.2023 ngày 29/5/2023 của Trung tâm P1 - Sở y tế Thành phố H đối với Nguyễn Thụy Bích L, xác định được như sau:
- Các kết quả chính: Theo Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể lập ngày 19/4/2023, hiện còn: Một sẹo vùng mi trên mắt trái kích thước 0,7 x 0,2cm;
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thụy Bích L tại thời điểm giám định là 03%;
- Thương tích do vật tày, vật tày có cạnh tác động gây ra, không gây nguy hiểm đến tính mạng.
Căn cứ Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 341.B/KLTTCT-TTPY.2023 ngày 04/01/2024 của Trung tâm P1 - Sở y tế Thành phố H đối với Nguyễn Thụy Bích L, xác định được như sau:
- Không có cơ sở trả lời vùng trọng yếu và chiều hướng vết thương.
Hành vi dùng bộ ly cúng bàn thờ tác động vào vùng mi trên mắt trái như hình ảnh camera Cơ quan điều tra cung cấp thì phù hợp gây ra được thương tích như đã giám định”.
Cáo trạng số 233/CT-VKS ngày 24/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thụy Bích L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 278/2024/HS-ST ngày 20/9/2024 và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 280/2024/TB-TA ngày 18/11/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định như sau:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thụy Bích L 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày 17/11/2023.
Ngoài ra, còn tuyên áp dụng các biện pháp, tuyên án phí, quyền kháng cáo của bị cáo và các đương đương sự.
Ngày 03/10/2024, bà Đặng Thị Kiêm T có đơn kháng cáo với nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo L với mức án 09 tháng tù là chưa tương xứng với tính chất, mức độ vi phạm. Do vậy, đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tăng hình phạt đối với bị cáo. Ông Nguyễn Văn C là người đã gọi L, U, N và T1 đến đánh bà T và là người đã mở cửa cho những người vừa nêu đánh bà T. Việc không truy tố ông C, U, N và T1 để lọt tội phạm. Do vậy, đề nghị Tòa án nhân Thành phố Hồ Chí Minh hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bà T rút lại nội dung kháng cáo đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo.
Bị cáo trình bày ý kiến đối với nội dung kháng cáo của bà T như sau: Việc bà T cho rằng ông C gọi bị cáo, U, N và T1 đến đánh bà T là hoàn toàn không đúng. Bà T cũng đã gây thương tích cho bị cáo nhưng vì xét thấy ai cũng có lỗi nên bị cáo không yêu cầu xử lý đối với bà T. Đề nghị Hội đồng xem xét, cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ.
Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết kháng cáo như sau:
Bị cáo L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, mức độ gây tổn hại sức khỏe cho bà T là có hạn chế. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo L 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ, đúng pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ vi phạm. Tại phiên tòa, bà T rút lại yêu cầu kháng cáo tăng nặng hình phạt đối với bị cáo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định.
Đối với việc bà T đề nghị hủy bản án sơ thẩm: Bà T cho rằng ông C là người đã gọi và mở cửa cho L, U, N và T1 đến đánh bà T là không có căn cứ. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để truy tìm U, N và T1 nhưng không có kết quả vì không xác định được lai lịch. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo này của bà T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Căn cứ lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, kết quả giám định và các tài liệu chứng cứ thu thập được, có căn cứ để xác định rằng: Chỉ vì cho rằng bà T hay chửi bới, đối xử không tốt với các con của mình, bị cáo đã có hành vi cùng một số người chưa rõ lai lịch đi đến nơi ở của bà T, dùng nón bảo hiểm (được xem là hung khí nguy hiểm) đánh bà T gây tổn hại sức khỏe cho bà T 02%.
[2].Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến sức khỏe người khác. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của minh là sai trái, bị luật pháp nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý vi phạm. Đối chiếu với quy định của pháp luật, có đủ căn cứ kết luận bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
[3].Về kháng cáo của bị hại Đặng Thị Kiêm T:
Đối với nội dung kháng cáo đề nghị tăng hình phạt với bị cáo: Mặc dù, tại phiên tòa, bà T rút lại yêu cầu kháng cáo vừa nêu. Tuy nhiên, nội dung kháng cáo vừa nêu có liên quan đến nội dung kháng cáo đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm. Do vậy, Hội đồng xét xử không đình chỉ chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung này mà vẫn xem xét theo quy định. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đó là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Mức độ tổn hại sức khoản gây ra cho bà T là có hạn chế (02%). Bà T cũng có lỗi một phần khi đã ném ly nước cúng bằng thủy tinh trúng vào mí mắt của bị cáo gây tổn hại cơ thể 03%. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 09 tháng đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ vi phạm và các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng.
Về việc bà T yêu cầu hủy án sơ thẩm do để lọt người phạm tội là ông C và các đối tượng U, N và T1: Các đối tượng U, N và T1 là những người không rõ lai lịch. Cơ quan điều tra đã áp dụng một số biện pháp nghiệp vụ để truy tìm các đối tượng này nhưng chưa có kết quả. Bà T cho rằng ông C là người đã gọi L, U, N và T1 đén đánh bà T nhưng bà T không cung cấp được bất kỳ tài liệu nào để chứng minh việc này. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra cũng không thu thập bất kỳ tài liệu chứng cứ nào chứng minh nội dung mà bà T đã nêu. Do vậy, việc bà T đề nghị hủy bản án sơ thẩm là không có căn cứ.
Vì các lý do đã nêu, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà T.
[4].Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/11/2023. Tính đến thời điểm xét xử phúc thẩm (19/11/2024) thì bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam 09 tháng 06 ngày. Tuy nhiên, bị cáo đang bị tạm giam trong một vụ án khác theo Quyết định tạm giam số 2280/2024/HSST-QĐTG ngày 18/11/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Do vậy, Hội đồng xét xử không tuyên bố trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.
[5].Về án phí: Bà T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bà Đặng Thị Kiêm T; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 278/2024/HS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; Điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thụy Bích L 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày 13/11/2023 (hiện bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác).
- Bà Đặng Thị Kiêm T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000đ.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Công Huấn |
Bản án số 413/2024/HS-PT ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 413/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thụy Bích L, CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH, GIỮ NGUYÊN BẢN ÁN SƠ THẨM
