Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 4185/2024/DS-ST

Ngày: 05-9-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Minh Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đăng Vạn

2. Ông Phạm Văn Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố

Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Võ Hồng D - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử B Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 421/2022/TLST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6577/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: - Ông Đỗ Tấn T, sinh năm 1974

- Bà Trịnh Thị Thanh T1, sinh năm 1981

Cùng địa chỉ: 2 D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Văn T2

Địa chỉ: 2 đường D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1968

Địa chỉ: 2 D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Bà Trương Thị L, sinh năm 1964

Địa chỉ: B D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

(Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt; bị đơn và người có

quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Theo đơn khởi kiện nộp ngày 22/4/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn ông Đặng Văn T2 trình bày:

Thửa đất 708, 709 - tờ bản đồ số 29 - toạ lạc tại số: 2 D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu của ông Đào Minh H và bà Nguyễn Thị T3. Bà Nguyễn Thị T3 mất năm 1999, ông Đào Minh H mất năm 2003.

Bà Nguyễn Thị S là con của ông H và bà T3. Năm 2015, bà S làm thủ tục xin cấp Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho 02 thửa đất nêu trên.

Ngày 29/12/2015, Ủy ban nhân dân Quận I nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 984020, vào sổ cấp GCN: CH08962 cho thửa 708, 709 - tờ bản đồ số 29 - địa chỉ số: 2 D, Phường P, Quận I nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh có thực trạng: đất ở đô thị 200 m², đất trồng cây lâu năm 1026,7m² cho bà Nguyễn Thị S đứng tên, bà S là người đại diện của những người thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của ông Đào Minh H và bà Nguyễn Thị T3.

Ngày 12/12/2017, Tòa án nhân dân Quận 9 nay là Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số: 398/2017/QÐST - DS công nhận sự thỏa thuận của các đương sự ghi nhận sự thống nhất phân chia tài sản chung của bà Nguyễn Thị T3 và ông Đào Minh H chết để lại là thửa đất 708,709 - tờ bản đồ số 29 - địa chỉ: 2 D, phường P, Quận I nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 984020, vào sổ cấp GCN: CH08962 do I nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp 29/12/2015 cho bà Nguyễn Thị S và ông Nguyễn Văn P cụ thể như sau:

  • + Bà Nguyễn Thị S được nhận đất và tài sản với gắn liền với đất có diện tích 503,6 m² thuộc thửa đất phân chiết 6-1, 708, 709-3, tờ bản đồ số 29, BĐC phường P, Quận I nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo tài liệu năm 2003) theo bản vẽ sơ đồ nhà đất số 516/2017/PG do Công ty TNHH T4 Phạm Gia lập ngày 27/9/2017.
  • + Ông Nguyễn Văn P được nhận đất và tài sản với gắn liền với đất có diện tích 518,1m² thuộc thửa đất phân chiết 6-4, 709-2, tờ bản đồ số 29, BĐC phường P, Quận I nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo tài liệu năm 2003) theo bản vẽ sơ đồ nhà đất số 516/2017/PG do Công ty TNHH T4 Phạm Gia lập ngày 27/9/2017 và phần đất có diện tích 200m² thuộc thửa đất phân chiết 709-1, tờ bản đồ số 29, BĐC phường P, Quận I nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo tài liệu năm 2003) theo bản vẽ sơ đồ nhà đất số 516/2017/PG do Công ty TNHH T4 Phạm Gia lập ngày 27/9/2017 (theo bản vẽ là đất làm nhà thờ).
  • + Phần diện tích đất 39,8m² thuộc thửa đất phân chiết 709-4, tờ bản đồ số 29, BĐC phường P, Quận I nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo tài

3

liệu năm 2003) theo bản vẽ sơ đồ nhà đất số 516/2017/PG do Công ty TNHH T4 ngày 27/9/2017 sử dụng làm lối đi chung.

Năm 2018, ông Nguyễn Văn P chết, bà Trương Thị L là vợ của ông Nguyễn Văn P liên hệ Văn Phòng C lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản số 23884 để nhận di sản của ông P để lại.

Ngày 05/11/2018, Văn phòng Đ Chi nhánh Q nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cập nhật thay đổi tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 984020, vào sổ cấp GCN: CH08962. Theo đó, bà Nguyễn Thị S và bà Trương Thị L đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 984020, vào sổ cấp GCN: CH08962 do Ủy ban nhân dân Quận I nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 29/12/2015, cập nhập thay đổi ngày 05/11/2018.

Tháng 9/2020, bà Nguyễn Thị S và ông Lê Văn L1 (chồng bà S) liên hệ với ông Đỗ Tấn T và bà Trịnh Thị Thanh T1 chào bán một phần diện tích đất mà bà S được nhận thừa kế từ bà Nguyễn Thị T3 và ông Đào Minh H, phần diện tích đất này đã được phân chia cho bà S theo Quyết định số: 398/2017/QÐST - DS của Tòa án nhân dân Quận 9 nay là Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 20/10/2020, bà S, ông L1 và ông T, bà T1 ký “Văn bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất” theo đó bà S, ông L1 bán cho bà T1 và ông T phần đất có diện tích 142,8m² (trong đó đất trồng cây lâu năm 60,9m²; đất ở nằm trong ranh quy hoạch đường dự kiến: 20,7m²; đất ở ngoài ranh quy hoạch đường dự kiến 61,2m². Chiều rộng khoảng 8m x chiều dài khoảng 18m. Đường đi chung trước mặt thửa đất là 6m. Thuộc thửa 708-1; 708-2; 709-1 (theo bản vẽ hiện trạng vị trí do Công ty cổ phần Đ1 lập ngày 18/10/2020). Phần diện tích 142,8m² nêu trên là tài sản riêng của bà S - phần đất này bà S nhận thừa kế từ bà Nguyễn Thị T3 và ông Đào Minh H, phần diện tích đất này đã được phân chia cho bà S theo Quyết định số: 398/2017/QÐST- DS của Tòa án nhân dân Quận 9 nay là Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Giá mua bán phần đất có diện tích 142,8m² là:1.400.000.000 đồng (một tỷ bốn trăm triệu đồng). Bà T1 và ông T đã thanh toán cho bà S 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) có lập Vi bằng về việc nhận tiền, số tiền còn lại 400.000.000 đồng các bên thỏa thuận là sau khi nhà nước có Quyết định thu hồi giải tỏa đền bù để làm đường theo dự kiến thì bà T1 và ông T sẽ thanh toán cho bà S. Các bên cũng thỏa thuận sau khi ký Văn bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất thì bà S và ông L1 phải bàn giao phần diện tích đất nêu trên cho ông T, bà T1 quản lý, sử dụng. Thế nhưng, đến nay bà S và ông L1 vẫn chưa bàn giao phần diện tích đất 142,8m² cho bà T1 và ông T.

Tháng 01/2021, ông Lê Văn L1 chết, bà S chủ động liên hệ với bà T1 và ông T lập Giấy cam kết (có xác nhận chữ ký ngày 19/3/2021) xác nhận vẫn chuyển nhượng phần diện tích 142,8m² đất nêu trên cho bà T1 và ông T.

4

Đầu tháng 3/2022, bà Trương Thị L làm đơn kiến nghị gửi đến Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T đề nghị Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T tổ chức hòa giải tranh chấp liên quan đến việc chuyển nhượng 142,8m² đất, thuộc thửa 708-1; 708 -2; 709-1 (theo bản vẽ hiện trạng vị trí do Công ty cổ phần Đ1 lập ngày 18/10/2020) đã được ký chuyển nhượng giữa bà T1 và ông T với bà S và ông L1.

Ngày 22/3/2022, Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T tổ chức phiên hòa giải cho các bên, tại phiên hòa giải bà S có ý kiến: bà không đồng ý tiếp tục thực hiện chuyển nhượng phần diện tích đất 142,8m² thuộc thửa 708-1; 708-2; 709-1 (theo bản vẽ hiện trạng vị trí do Công ty cổ phần Đ1 lập ngày 18/10/2020) cho bà T1 và ông T.

Nhận thấy, việc bà S không đồng ý chuyển nhượng phần diện tích đất nêu trên cho bà T1 và ông T là trái với thỏa thuận của các bên, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà T1 và ông T nên bà T1 và ông T khởi kiện yêu cầu: Hủy Văn bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất được lập ngày 20/10/2020 giữa bà T1 và ông T với bà Nguyễn Thị S do vô hiệu. Buộc bà Nguyễn Thị S trả lại cho bà T1 và ông T số tiền bà T1 và ông T đã thanh toán cho bà S là: 1.000.000.000 đồng.

Buộc bà Nguyễn Thị S thanh toán cho bà T1 và ông T tiền lãi suất cho số tiền 1.000.000.000 đồng từ ngày 20/10/2020 cho đến ngày Tòa án giải quyết xong vụ việc nêu trên, tạm tính đến ngày 20/05/2024 là: 1.000.000.000 đồng x 12%/năm x 3 năm 7 tháng = 430.000.000 đồng.

Ông T2 xác định là chỉ yêu cầu cá nhân bà S trả lại số tiền 1.000.000.000 đồng.

Bà Nguyễn Thị S là bị đơn trình bày: Bà S không đồng ý tiếp tục chuyển nhượng phần đất 142,8m² thuộc thửa 708-1; 708-2; 709-1, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo bản vẽ hiện trạng vị trí do Công ty cổ phần Đ1 lập ngày 18/10/2020). Bà S đồng ý trả lại số tiền đã nhận là 1.000.000.000 đồng cho bà T1 và ông T, hiện nay bà S chỉ có 500.000.000 đồng và số tiền này bà S sẽ trả cho ông T, bà T1 vào ngày 30/9/2024. Đối với số tiền còn lại là 500.000.000 đồng, bà S sẽ trả cho ông T và bà T1 khi nào bà S có tiền. Bà S yêu cầu hủy bỏ Văn bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất được lập ngày 20/10/2020 giữa bà T1 và ông T với bà Nguyễn Thị S, ông L1. Đối với số tiền lãi mà ông T và bà T1 yêu cầu, bà S không đồng ý vì đây là khoản lãi vô lý, bà S khó khăn không có tiền để trả.

Bà Trương Thị L là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: Bà L là đồng sở hữu phần đất 142,8m², thuộc thửa 708-1,708-2, 709-1, phường P, thành phố T. Khi bà S bán đất cho ông T, bà T1 bà L không biết, bà L không đồng ý việc chuyển nhượng đất của bà S. Đề nghị Tòa án hủy Văn bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất được lập ngày 20/10/2020 giữa ông Đỗ Tấn T, bà Trịnh Thị Thanh T1 với bà Nguyễn Thị S, ông Lê Văn

5

L1. Đối với việc ông T và bà T1 yêu cầu bà S trả lại số tiền đã nhận thì thuộc trách nhiệm của bà S.

Tại phiên tòa hôm nay:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là tuyên Văn bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất được lập ngày 20/10/2020 giữa bà T1 và ông T với bà S và ông L1 do vô hiệu; yêu cầu bà Nguyễn Thị S trả lại cho ông T và bà T1 số tiền đã nhận là 1.000.000.000 đồng. Nguyên đơn rút lại yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị S thanh toán cho bà T1 và ông T tiền lãi suất của số tiền 1.000.000.000 đồng từ ngày 20/10/2020 cho đến ngày Tòa án giải quyết xong vụ việc kiện.

Bị đơn đồng ý trả lại số tiền 1.000.000.000 đồng nhưng đề nghị cho thêm thời gian để thanh toán vì không có tiền để trả lại một lần. Bà S sẽ trả số tiền 500.000.000 đồng vào ngày 30/9/2024, số tiền còn lại 500.000.000 đồng sẽ trả vào tháng 12/2024.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không đồng ý với phương án trả tiền của bà S, yêu cầu bà S trả làm một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến:

  • + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Thẩm phán có vi phạm về thời hạn đưa vụ án ra xét xử.
  • + Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự, người đại diện ủy quyền có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, văn bản ủy quyền đúng quy định pháp luật.
  • + Về giải quyết nội dung vụ kiện: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tuyên Văn bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất được lập ngày 20/10/2020 giữa bà T1 và ông T với bà Nguyễn Thị S, ông L1 vô hiệu; buộc bà Nguyễn Thị S trả lại cho ông T và bà T1 số tiền đã nhận là 1.000.000.000 đồng và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu đòi tiền lãi của số tiền 1.000.000.000 đồng của nguyên đơn.

Bị đơn bà Nguyễn Thị S phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Đỗ Tấn T, bà Trịnh Thị Thanh T1 khởi kiện bà Nguyễn Thị S tranh chấp hợp đồng chuyển

6

nhượng quyền sử dụng đất, phần đất đang tranh chấp tọa lạc tại phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về yêu cầu của nguyên đơn:

Ông T và bà T1 khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên Văn bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất được lập ngày 20/10/2020 giữa bà T1 và ông T với bà Nguyễn Thị S vô hiệu; buộc bà Nguyễn Thị S trả lại cho ông T và bà T1 số tiền đã nhận là 1.000.000.000 đồng.

Xét, Văn bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất được lập ngày 20/10/2020 giữa bà T1 và ông T với bà Nguyễn Thị S có nội dung: bà S và ông L1 bán cho ông T, bà T1 phần đất có diện tích 142,8m² (trong đó đất trồng cây lâu năm 60,9m²; đất ở nằm trong ranh quy hoạch đường dự kiến: 20,7m²; đất ở ngoài ranh quy hoạch đường dự kiến 61,2m². Chiều rộng khoảng 8m x chiều dài khoảng 18m. Đường đi chung trước mặt thửa đất là 6m) thuộc thửa 708-1; 708-2; 709-1 phường P, thành phố T (theo bản vẽ hiện trạng vị trí do Công ty cổ phần Đ1 lập ngày 18/10/2020), giá chuyển nhượng là 1.400.000.000 đồng. Ông T, bà T1 đã giao cho bà S số tiền 1.000.000.000 đồng (có lập vi bằng). Văn bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất được lập ngày 20/10/2020 là văn bản mua bán đất bằng giấy tay, không công chứng chứng thực nên vô hiệu về mặt hình thức. Đồng thời, nguyên đơn và bị đơn đều không muốn tiếp tục mua bán phần đất trên, phía nguyên đơn và bị đơn đều yêu cầu tuyên hủy Văn bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất được lập ngày 20/10/2020 và nguyên đơn chỉ yêu cầu bà S trả lại số tiền đã nhận. Bà S cũng đồng ý trả lại số tiền đã nhận là 1.000.000.000 đồng cho nguyên đơn.

Đồng thời, phần đất 142,8m² thuộc thửa 708-1; 708-2; 709-1 phường P, thành phố T (theo bản vẽ hiện trạng vị trí do Công ty cổ phần Đ1 lập ngày 18/10/2020) nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 984020, vào sổ cấp GCN: CH08962 do Ủy ban nhân dân Quận I nay là thành phố T cấp ngày 29/12/2015, cập nhập thay đổi ngày 05/11/2018 là đất trồng cây lâu năm, không đủ điều kiện tách thửa, sang tên theo quy định pháp luật nên cũng vô hiệu về nội dung.

Xét, trong Văn bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất được lập ngày 20/10/2020 có tên ông Lê Văn L1 đứng tên bên bán nhưng bà S xác định ông L1 là chồng bà S nên để đứng tên bán chung với bà S, phần đất này có nguồn gốc của cha mẹ bà S chết để lại cho bà S không liên quan gì đến ông L1 và ông L1 đã chết.

Sau khi ông L1 chết, ngày 19/3/2021 bà S có làm Văn bản thỏa thuận và Giấy cam kết có chứng nhận của Văn phòng C1 với nội dung: Bà S công nhận đã (bán) chuyển nhượng phần đất 142,8m² thuộc thửa 708-1; 708-2; 709-1

7

phường P, thành phố T cho bà T1 và cam kết không có tranh chấp, khiếu nại để bà T1 làm thủ tục tách thửa, xin cấp giấy chứng nhận.

Từ những căn cứ trên cho thấy Văn bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất ký ngày 20/10/2020 giữa bà T1 và ông T với bà Nguyễn Thị S, ông Lê Văn L1 là vô hiệu cả về hình thức và nội dung. Hậu quả của hợp đồng vô hiệu là các bên có nghĩa vụ hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Phần đất 142,8m² thuộc thửa 708-1; 708-2; 709-1 phường P, thành phố T (theo bản vẽ hiện trạng vị trí do Công ty cổ phần Đ1 lập ngày 18/10/2020) hiện nay do bà S quản lý sử dụng nên không có căn cứ yêu cầu ông T, bà T1 trả lại đất.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định là chỉ yêu cầu cá nhân bà S trả lại số tiền đã nhận và bà S cũng đồng ý một mình bà S trả lại số tiền 1.000.000.000 đồng.

Tại phiên tòa hôm nay, các đương sự xác định không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên Văn bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất được lập ngày 20/10/2020 giữa bà T1 và ông T với bà Nguyễn Thị S, ông L1 vô hiệu; buộc bà Nguyễn Thị S phải trả lại cho ông Đỗ Tấn T, bà Trịnh Thị Thanh T1 số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị S phải chịu án phí không giá ngạch và có giá ngạch theo quy định pháp luật.

H1 lại cho ông Đỗ Tấn T, bà Trịnh Thị Thanh T1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 186 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 167 Luật Đất đai 2013;

Căn cứ Điều 117, Điều 122, Điều 127, Điều 131, Điều 408 và Điều 502 Bộ luật Dân sự;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Tấn T, bà Trịnh Thị Thanh T1 đối với bị đơn bà Nguyễn Thị S.

8

Tuyên bố Văn bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất được lập ngày 20/10/2020 giữa ông Đỗ Tấn T, bà Trịnh Thị Thanh T1 với bà Nguyễn Thị S, ông Lê Văn L1 vô hiệu;

Buộc bà Nguyễn Thị S trả lại cho ông Đỗ Tấn T, bà Trịnh Thị Thanh T1 số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng. Thực hiện ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu đòi tiền lãi của nguyên đơn.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian còn phải thi hành.

  1. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 42.300.000 (bốn mươi hai triệu ba trăm ngàn) đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

H1 lại cho ông Đỗ Tấn T, bà Trịnh Thị Thanh T1 số tiền 27.000.000 (hai mươi bảy triệu) đồng là tiền tạm ứng án phí ông T, bà T1 đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0027262 ngày 20/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu.
  2. Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp vắng mặt, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDTP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Các đương sự
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lương Minh Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4185/2024/DS-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 4185/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà T yêu cầu Cty QT trả lại số tiền đặt chỗ 50.000.000 đồng. HĐXX chấp nhận yêu cầu bà T.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger