Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 4121/2024/DS-ST

Ngày: 30-8-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng

mua bán điện.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Minh Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Tâm

2. Ông Trần Đăng Vạn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Võ Hồng D - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử B Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 124/2024/TLST-KDTM ngày 02 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán điện” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5050/2024/QĐXXST-KDTM ngày 08 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 6288/2024/QĐST-KDTM ngày 02 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Tổng Công ty Điện lực Thành phố H

Địa chỉ: C T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Thái Kim S

(Văn bản ủy quyền số 0311/UQ-PCTĐ ngày 01/3/2024)

Bị đơn: Công ty Cổ phần N

Địa chỉ: E đường A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Chung

Địa chỉ thường trú: 102/21/11 L, phường A, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh

Địa chỉ tạm trú: 03 đường A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

(Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt; bị đơn và người đại diện theo pháp luật của bị đơn vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nộp ngày 07/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn ông Thái Kim S trình bày:

Ngày 20/12/2021, Tổng Công ty Điện lực Thành phố H - Chi nhánh Tổng Công ty Điện lực Thành phố H - Công ty Đ (sau đây gọi tắt là “Công ty Đ”) đã ký Hợp đồng mua bán điện số 21004056/EVNHCMC/HĐMBĐNMĐSH với Công Ty TNHH S1 phát Đạt nay là Công ty Cổ phần N (theo phụ lục Hợp đồng được ký ngày 17/08/2022), mã khách hàng: PE10000162774, địa chỉ sử dụng điện: 05 đường số A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Sau khi ký Hợp đồng mua bán điện, Công ty Đ đã cung cấp điện cho Công ty Cổ phần N theo đúng nội dung hợp đồng. Tuy nhiên, thời gian sử dụng điện từ ngày 16/10/2023 đến ngày 31/12/2023, thì Công ty Cổ phần N đại diện theo pháp luật là ông Đặng C1 đã không thanh toán tiền điện đầy đủ, đúng thời hạn. Tổng Công ty Điện lực Thành phố H đã gửi công văn nhắc nợ lần lượt gồm:

  1. Công văn số 5925/PCTĐ-QLTG1 ngày 22/12/2023;
  2. Công văn số 6004/PCTĐ-QLTG1 ngày 26/12/2023;
  3. Công văn số 262/PCTĐ-QLTG1 ngày 16/01/2024.

Tại Khoản 1, 2 Điều 23 Luật Điện lực 2004 sửa đổi, bổ sung 2012 có quy định: “Bên mua điện phải thanh toán đủ và đúng thời hạn số tiền điện ghi trong hóa đơn cho bên bán điện theo biểu giá điện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Tiền điện được thanh toán tại trụ sở, nơi ở của bên mua điện hoặc tại địa điểm thuận lợi do hai bên thoả thuận trong hợp đồng mua bán điện. Bên mua điện chậm trả tiền điện phải trả cả tiền lãi của khoản tiền chậm trả cho bên bán điện”. Đồng thời, cũng tại điểm a khoản 2 Điều 46 Luật Điện lực 2004 sửa đổi, bổ sung 2012 cũng có quy định: “Khách hàng sử dụng điện có nghĩa vụ thanh toán tiền điện đầy đủ, đúng thời hạn trong hợp đồng mua bán điện cho bên bán”.

Theo Mục 3.2, khoản b, c Điều 3 Hợp đồng mua bán điện, các bên thỏa thuận hình thức và thời hạn thanh toán tiền điện như sau:

“Thời hạn thanh toán: 07 ngày kể từ ngày Bên A thông báo thanh toán lần đầu theo hình thức được quy định tại Điều 3.3”.

“Phương thức thanh toán: Chuyển khoản; Thanh toán điện tử; Khác”

Như vậy, căn cứ theo quy định tại khoản 12 Điều 3, Điều 50 và Điều 55 Luật Thương mại 2005 thì Công ty cổ phần N là bên mua điện đã vi phạm hợp đồng do không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền điện, vi phạm thời hạn thanh toán theo thỏa thuận tại Mục 3.2, khoản b, c Điều 3 Hợp đồng mua bán điện giữa các bên.

Nay, bằng đơn này, Tổng Công ty Điện lực Thành phố H đề nghị Tòa án buộc Công ty cổ phần N thanh toán các khoản tiền như sau:

+ Tiền mua điện đối với điện kế có mã khách hàng PE10000162774 theo Thông báo tiền điện kỳ 2 - tháng 10/2023 (16 ngày từ 16/10/2023 đến 31/10/2023) số tiền điện phải thanh toán là 29.555.915 đồng; Thông báo tiền điện kỳ 1 - tháng 11/2023 (15 ngày từ 01/11/2023 đến 15/11/2023) số tiền điện phải thanh toán là 19.600.568 đồng; Thông báo tiền điện kỳ 2 - tháng 11/2023 (16 ngày từ 16/11/2023 đến 30/11/2023) số tiền điện phải thanh toán là 22.823.209 đồng; Thông báo tiền điện kỳ 1 - tháng 12/2023 (15 ngày từ 01/12/2023 đến 15/12/2023) số tiền điện phải thanh toán là 27.743.005 đồng; Thông báo tiền điện kỳ 2 - tháng 12/2023 (16 ngày từ 16/12/2023 đến 31/12/2023) số tiền điện phải thanh toán là 20.264.125 đồng. Tổng cộng là 119.986.822 đồng.

+ Phí ngừng và cấp điện trở lại: 249.480 đồng;

+ Tiền lãi do chậm trả tiền điện tính đến ngày 30/8/2024: 8.335.319 đồng.

Tổng cộng: 128.591.621 đồng (Một trăm hai mươi hai triệu năm trăm chín mươi mốt ngàn sáu trăm hai mốt đồng).

Bị đơn Công ty cổ phần N và người đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần N dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng cũng như không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa hôm nay:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là yêu cầu Công ty cổ phần N thanh toán các khoản tiền như sau: Tiền mua điện đối với điện kế có mã khách hàng PE10000162774 tổng cộng là 119.986.822 đồng; Phí ngừng và cấp điện trở lại: 249.480 đồng; T lãi do chậm trả tiền điện tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo từng kỳ thanh toán (thỏa thuận trong Hợp đồng) đến ngày 30/8/2024 là 8.335.319 đồng, tổng cộng là 128.571.621 đồng, thực hiện làm một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn và người đại diện theo pháp luật của bị đơn vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến:

  • + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo quy định của pháp luật.
  • + Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự, người đại diện ủy quyền có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, văn bản ủy quyền đúng quy định pháp luật.
  • + Về giải quyết nội dung vụ kiện: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty cổ phần N thanh toán các khoản tiền như sau: Tiền mua điện đối với điện kế có mã khách hàng PE10000162774 tổng cộng là 119.986.822 đồng; Phí ngừng và cấp điện trở lại: 249.480 đồng; T lãi do chậm trả tiền điện tính tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo từng kỳ thanh toán (thỏa thuận trong Hợp đồng) đến ngày 30/8/2024 là 8.335.319 đồng. Tổng cộng là 128.571.621 đồng, thực hiện làm một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
  • Công ty cổ phần N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn Tổng Công ty Điện lực Thành phố H khởi kiện bị đơn Công ty cổ phần N về việc tranh chấp hợp đồng mua điện, trụ sở bị đơn ở phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, T1 phồ Hồ Chí Minh theo khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn Công ty cổ phần N và người đại diện theo pháp luật của bị đơn ông Đặng C1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Công ty cổ phần N và người đại diện theo pháp luật của bị đơn ông Đặng C1.

[3] Về yêu cầu của nguyên đơn:

Nguyên đơn yêu cầu buộc Công ty cổ phần N thanh toán các khoản tiền như sau: Tiền mua điện đối với điện kế có mã khách hàng PE10000162774 tổng cộng là 119.986.822 đồng; Phí ngừng và cấp điện trở lại: 249.480 đồng; T lãi do chậm trả tiền điện tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo từng kỳ thanh toán (thỏa thuận trong Hợp đồng) đến ngày 30/8/2024 là 8.335.319 đồng. Tổng cộng là 128.571.621 đồng. Thực hiện làm một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Xét, Hợp đồng mua bán điện ngoài mục đích sinh hoạt số 21004056/EVNHCMC/HĐMBĐNMĐSH giữa Tổng Công ty Điện lực Thành phố H với Công Ty TNHH S1 phát Đạt nay là Công ty Cổ phần N (theo phụ lục Hợp đồng được ký ngày 17/08/2022) có nội dung: Tổng Công ty Điện lực Thành phố H (Bên A), Công ty Cổ phần N (Bên B) ký hợp đồng mua bán điện với nhau, địa điểm sử dụng điện: 05 đường A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; mục đích sử dụng điện: sản xuất nhựa - kệ vách ngăn tủ lạnh; cấp điện áp: 380, công suất cực đại Pmax: 227kw, trung bình: 148kw, nhỏ nhất Pmin: 70kw; điện năng sử dụng trung bình Atb: 6500kwh/tháng; mua công suất

phản kháng: có; điểm đấu nối cấp điện: đấu nối vào lộ ra hạ áp trạm N29MT073L của Bên A; ghi chỉ số công tơ (theo Hợp đồng sửa đổi, bổ sung) 02 kỳ/tháng; ngày ghi chỉ số: 15 và ngày cuối tháng; hình thức ghi chỉ số công tơ: từ xa; giá bán điện sản suất các sản phẩm từ cao su và nhựa: giờ bình thường 1.555 đồng/kwh, giờ cao điểm: 2.871 đồng/kwh, giờ thấp điểm: 1.007 đồng/kwh; thời hạn thanh toán 07 ngày kể từ ngày Bên A thông báo thanh toán lần đầu theo hình thức được quy định tại Điều 3.3 của Hợp đồng.

Căn cứ Thông báo tiền điện kỳ 2 - tháng 10/2023 (16 ngày từ 16/10/2023 đến 31/10/2023) gửi Công ty Cổ phần N số tiền điện phải thanh toán là 29.555.915 đồng;

Căn cứ Thông báo tiền điện kỳ 1 - tháng 11/2023 (15 ngày từ 01/11/2023 đến 15/11/2023) gửi Công ty Cổ phần N số tiền điện phải thanh toán là 19.600.568 đồng;

Căn cứ Thông báo tiền điện kỳ 2 - tháng 11/2023 (16 ngày từ 16/11/2023 đến 30/11/2023) gửi Công ty Cổ phần N số tiền điện phải thanh toán là 22.823.209 đồng;

Căn cứ Thông báo tiền điện kỳ 1 - tháng 12/2023 (15 ngày từ 01/12/2023 đến 15/12/2023) gửi Công ty Cổ phần N số tiền điện phải thanh toán là 27.743.005 đồng;

Căn cứ Thông báo tiền điện kỳ 2 - tháng 12/2023 (16 ngày từ 16/12/2023 đến 31/12/2023) gửi Công ty Cổ phần N số tiền điện phải thanh toán là 20.264.125 đồng.

Tổng cộng số tiền điện Công ty Cổ phần N còn nợ 05 kỳ thanh toán là 119.986.822 đồng.

Tổng Công ty Điện lực Thành phố H đã ngừng cung cấp điện cho Công ty Cổ phần N từ tháng 12/2023 cho đến nay và gửi Thông báo yêu cầu Công ty Cổ phần N yêu cầu thanh toán số tiền điện còn nợ nhưng Công ty Cổ phần N vẫn không có ký kiến phản hồi và cũng không thanh toán tiền điện cho Tổng Công ty Điện lực Thành phố H.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Quan hệ mua bán điện giữa Tổng Công ty Điện lực Thành phố H với Công Ty TNHH S1 phát Đạt nay là Công ty Cổ phần N là có thật và hợp pháp.

Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án Công ty Cổ phần N cũng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của Tổng Công ty Điện lực Thành phố H.

Xét từ sau ngày 31/12/2023, Công ty Cổ phần N không thanh toán số tiền điện còn nợ cho Tổng Công ty Điện lực Thành phố H là vi phạm nghĩa vụ thanh toán và vi phạm quy định tại Điều 50 của Luật Thương mại về thanh toán. Do đó, Tổng Công ty Điện lực Thành phố H yêu cầu Công ty Cổ phần N thanh toán số tiền mua điện còn nợ là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét yêu cầu của Tổng Công ty Điện lực Thành phố H về việc yêu cầu Công ty Cổ phần N trả lãi do chậm trả tiền điện cụ thể như sau:

  • + Từ ngày 08/11/2023 đến ngày 30/8/2024 của số tiền 29.555.915 đồng, số ngày chậm trả là 297 ngày, lãi suất chậm trả theo ngày là 0,00026, số tiền lãi do chậm trả tiền điện là 2.282.308 đồng;
  • + Từ ngày 23/11/2023 đến ngày 30/8/2024 của số tiền 19.600.568 đồng, số ngày chậm trả là 282 ngày, lãi suất chậm trả theo ngày là 0,00026, số tiền lãi do chậm trả tiền điện là 1.437.114 đồng;
  • + Từ ngày 10/12/2023 đến ngày 30/8/2024 của số tiền 22.823.209 đồng, số ngày chậm trả là 265 ngày, lãi suất chậm trả theo ngày là 0,00026, số tiền lãi do chậm trả tiền điện là 1.572.519 đồng;
  • + Từ ngày 24/12/2023 đến ngày 30/8/2024 của số tiền 27.743.005 đồng, số ngày chậm trả là 251ngày, lãi suất chậm trả theo ngày là 0,00026, số tiền lãi do chậm trả tiền điện là 1.810.509 đồng;
  • + Từ ngày 10/01/2024 đến ngày 30/8/2024 của số tiền 20.264.125 đồng, số ngày chậm trả là 234 ngày, lãi suất chậm trả theo ngày là 0,00026, số tiền lãi do chậm trả tiền điện là 1.232.869 đồng.

Tổng cộng số tiền mà Tổng Công ty Điện lực Thành phố H yêu cầu Công ty Cổ phần N trả do chậm trả tiền điện là 8.335.319 đồng.

Căn cứ theo quy định tại khoản 3.2, 3.3 Điều 3 và khoản 10.4 Điều 10 của Hợp đồng mua bán điện giữa Tổng Công ty Điện lực Thành phố H với Công ty Cổ phần N có nội dung “khoản tiền lãi chậm trả được tính bằng giá trị nghĩa vụ thanh toán bị vi phạm nhân với lãi suất chậm trả và nhân với số ngày chậm trả. Số ngày chậm trả được tính từ ngày đầu tiên kết thúc thời hạn thanh toán tại Điều 3.2.b đến ngày Bên B thanh toán đủ...”.

Trong đó, số ngày chậm trả = ngày khách hàng thanh toán - ngày khách hàng nhận thông báo tiền điện lần đầu + 7; lãi suất tính theo ngày bằng lãi suất cho vay cao nhất của Ngân hàng M có tài khoản ghi trong hợp đồng tại thời điểm thanh toán.

Án lệ số 09/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016; Thông báo công bố về lãi suất cho vay Việt Nam Đồng áp dụng đối với pháp nhân vay sản xuất kinh doanh thông thường của khoản vay trung - dài hạn đang được Ngân hàng N1; Ngân hàng Thương mại Cổ phần C2 và Ngân hàng Thương mại Cổ phần N2 áp dụng thì đủ cơ sở để xác định, lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm xét xử (ngày 30/9/2024) là: (9,3%/năm + 12,5%/năm + 9,5%/năm) : 3 x 150% = 15,65%/năm.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Tổng Công ty Điện lực Thành phố H xác định chỉ yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất 0,00026/ngày (tương đương 0,0949%/năm), đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, có lợi cho phía bị đơn và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp

nhận yêu cầu của nguyên đơn, Công ty Cổ phần N có trách nhiệm thanh toán cho Tổng Công ty Điện lực Thành phố H số tiền lãi tính từ ngày 08/11/2023 đến ngày 30/8/2024 của số tiền 29.555.915 đồng x 297 ngày x 0,00026 = 2.282.308 đồng; từ ngày 23/11/2023 đến ngày 30/8/2024 của số tiền 19.600.568 đồng x 282 ngày x 0,00026 = 1.437.114 đồng; từ ngày 10/12/2023 đến ngày 30/8/2024 của số tiền 22.823.209 đồng x 265 ngày x 0,00026 = 1.572.519 đồng; từ ngày 24/12/2023 đến ngày 30/8/2024 của số tiền 27.743.005 đồng x 251 ngày x 0,00026 = 1.810.509 đồng; từ ngày 10/01/2024 đến ngày 30/8/2024 của số tiền 20.264.125 đồng x 234 ngày x 0,00026 = 1.232.869 đồng.

Tổng cộng số tiền mà Tổng Công ty Điện lực Thành phố H yêu cầu Công ty Cổ phần N trả lãi do chậm trả tiền điện là 8.335.319 đồng.

Đối với yêu cầu Công ty Cổ phần N thanh toán phí ngừng và cấp điện trở lại 249.480 đồng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

[3] Về án phí:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên Công ty cổ phần N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 6.428.581 đồng.

H lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 5; khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 50, Điều 55 của Luật Thương mại;

Căn cứ khoản 1, 2, 4 Điều 23 Luật Điện lực 2004 sửa đổi, bổ sung 2012;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tổng Công ty Điện lực Thành phố H đối với bị đơn Công ty cổ phần N.

Buộc Công ty cổ phần N thanh toán cho Tổng Công ty Điện lực Thành phố H TNHH tiền mua điện còn nợ đối với điện kế có mã khách hàng PE10000162774 theo Hợp đồng mua bán điện ngoài mục đích sinh hoạt số 21004056/EVNHCMC/HĐMBĐNMĐSH ngày 20/12/2021là 119.986.822 (một trăm mười chín triệu chín trăm tám mươi sáu ngàn tám trăm hai mươi hai) đồng; Phí ngừng và cấp điện trở lại là 249.480 (hai trăm bốn mươi chín ngàn bốn trăm tám mươi) đồng; T lãi do chậm trả tiền điện tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ thanh

toán theo thỏa thuận trong hợp đồng đến ngày 30/8/2024 là 8.335.319 đồng. Tổng cộng là 128.571.621 (một trăm hai mươi hai triệu năm trăm bảy mươi mốt ngàn sáu trăm hai mốt) đồng.

Phương thức và thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật tại Cơ quan Thi hánh án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày 31/8/2024 Công ty cổ phần N còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi của số tiền còn nợ chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng mua bán điện ngoài mục đích sinh hoạt số 21004056/EVNHCMC/HĐMBĐNMĐSH ngày 20/12/2021 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này cho Tổng Công ty Điện lực Thành phố H.

3. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Công ty cổ phần N phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 6.428.581 (sáu triệu bốn trăm hai mươi tám ngàn năm trăm tám mươi mốt) đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

H lại cho Tổng Công ty Điện lực Thành phố H TNHH số tiền 3.054.614 (ba triệu không trăm năm mươi bốn ngàn sáu trăm mười bốn) đồng là tiền tạm ứng án phí Tổng Công ty Điện lực Thành phố H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0025994 ngày 01/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp vắng mặt, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDTP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Các đương sự
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lương Minh Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4121/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán điện

  • Số bản án: 4121/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán điện
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổng Công ty Đ y6eu cầu Công ty CP Nhựa P thanh toán tiền mua bán điện còn nợ. HĐXX chấp nhận yêu cầu Tổng Công ty Đ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger