|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 412/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31-5-2024
V/v: Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Quang Cảnh
- Bà Nguyễn Thị Thanh Trang
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Mai Hảo – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 101/2024/HNST ngày 29 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 290/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 368/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Thạch Kim H, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số nhà B đường A, phường T, Quận G, Tp . (có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Phan Thị Thùy D, sinh năm 1985; Địa chỉ: D Chung cư T, C T, phường S, quận T, Tp . (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 04/01/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Thạch Kim H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Phan Thị Thùy D tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn vào năm 2009 tại UBND phường T, Quận G, TP . theo giấy chứng nhận kết hôn số 121, quyển số 01/09 ngày 17/12/2009.
Quá trình chung sống, hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn do quan điểm sống không phù hợp, không có tiếng nói chung nên không còn hạnh phúc. Vợ chồng cũng nhiều lần tìm cách khắc phục mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Từ đầu năm 2012 bà D về nhà cha mẹ đẻ sống, nên vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, mâu thuẫn không có khả năng hàn gắn nên ông yêu cầu ly hôn với bà Phan Thị Thùy D.
- Về quan hệ con chung: Ông và bà D có 01 con chung tên Thạch Phan Quỳnh A sinh ngày 01/04/2010. Hiện nay con chung ở với bà D, ông vẫn đưa rước con đi học hàng ngày. Khi ly hôn, ông đồng ý để bà D trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Ông tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung trưởng thành và phát triển bình thường.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Ông H khai không có.
Bị đơn – bà Phan Thị Thùy D đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tòa án không lấy được lời khai cũng như không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật: Đương sự, Thư ký và Hội đồng xét xử đều tuân theo pháp luật tố tụng qui định tại Điều 28; Điều 48; Điều 69; Điều 79; Điều 171; Điều 173 ; Điều 203 và Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn năm 2009 thì quan hệ hôn nhân giữa ông H bà D là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Hai bên chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, đã ly thân từ năm 2012 đến nay. Về con chung: Ông H đồng ý giao con chung Thạch Phan Quỳnh A sinh ngày 01/04/2010, và tại bản tự khai cháu A cũng có nguyện vọng được ở với bà D. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H; Về tài sản chung và nợ chung: Ông H khai không có; Về án phí: Tính theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 121, quyển số 01/09 ngày 17/12/2009 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, TP . cấp cho ông Thạch Kim H và bà Phan Thị Thùy D thì quan hệ hôn nhân giữa ông H và bà D là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Bà D hiện cư ngụ tại quận T, nay ông H yêu cầu ly hôn, Toà án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết là phù hợp với khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục vắng mặt đương sự:
Nguyên đơn – ông Thạch Kim H có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân quận Tân Phú vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông H.
Bị đơn – bà Phan Thị Thùy D đã được Tòa án nhân dân quận Tân Phú tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo khoản 1, khoản 2 Điều 177; khoản 2 Điều 220; khoản 3 Điều 233 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhưng bà D vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân quận Tân Phú vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà D.
[2] Về yêu cầu của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Xét, việc ông Thạch Kim H yêu cầu ly hôn với bà Phan Thị Thùy D:
Căn cứ lời khai của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: ông H bà D chung sống phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên vợ chồng không hạnh phúc. Do mâu thuẫn hai bên đã ly thân sống riêng từ năm 2012 đến nay. Mặt khác trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay bà D cũng vắng mặt, qua đó thể hiện bà D không có thiện chí để hàn gắn tình cảm. Xét thấy, tình trạng vợ chồng giữa ông H bà D là có thật, khả năng hàn gắn không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông H.
- Về quan hệ con chung: Xét việc ông H đồng ý giao con chung tên Thạch Phan Quỳnh A sinh ngày 01/04/2010 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng:
Xét, việc giao con chung cho ai là người trực tiếp nuôi dưỡng phải dựa vào quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Hiện nay cháu Quỳnh A đang chung sống với bà D, ông H vẫn qua lại đưa đón con đi học, cháu D phát triển bình thường. Ngoài ra nguyện vọng của cháu Quỳnh A là muốn chung sống với bà D và cháu là con gái đang trong độ tuổi phát triển về tâm sinh lý nên cần sự chăm sóc của bà D nhiều hơn. Do đó việc giao con chung cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án ông H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000 đồng/tháng. Do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của ông H về việc cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Ông H khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này bà D chứng minh được hai bên có tài sản chung và có nợ chung thì sẽ được khởi kiện bằng vụ án khác.
[3] Về án phí:
Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng và án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 267; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 107; Điều 110; Điều 116; Điều 117, Điều 118 và Điều 119 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27; điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Thạch Kim H.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Thạch Kim H được ly hôn với bà Phan Thị Thùy D.
Giấy chứng nhận kết hôn số 121, quyển số 01/09 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, TP . cấp ngày 17/12/2009 cho ông H bà D không còn giá trị pháp luật kể từ ngày Bản án của tòa án có hiệu lực.
- Về quan hệ con chung: Giao con chung tên Thạch Phan Quỳnh A sinh ngày 01/04/2010 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Ông H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000 (năm triệu) đồng/tháng. Việc cấp dưỡng được thực hiện vào ngày 5 (năm) hàng tháng, bắt đầu thi hành từ tháng 6/2024 cho đến khi cho đến khi con chung trưởng thành và phát triển bình thường.
+ Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng do các bên tự thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa giải quyết.
+ Ông H được quyền thăm nom con, không ai được cản trở.
+ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức (người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội L), Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Ông H khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này bà D chứng minh được hai bên có tài sản chung và có nợ chung thì sẽ được khởi kiện bằng vụ án khác.
2. Về án phí:
Ông Thạch Kim H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng và phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí do ông H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007561 ngày 29 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông H phải nộp thêm án phí là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Hương |
Bản án số 412/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 412/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
