TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 412/2024/HS-ST Ngày: 22/8/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Chí Quang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hoa;
- Ông Phạm Văn Phước.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thế Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 401/2024/HSST ngày 26 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 430/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Đức T, sinh năm: 1998, tại Đồng Nai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: D1/27 tổ A, ấp L, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú hiện nay: D1/27 tổ A, ấp L, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Đỗ Thị H, sinh năm 1978;
Tiền án: Ngày 28/3/2023, Nguyễn Đức T bị Tòa án nhân dân Quận 7 xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/9/2023, thi hành án Dân sự ngày 30/8/2023;
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/3/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần.
- Bị hại: Ông Dương Thanh T2, sinh năm 1981; Nơi thường trú: L, M, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú hiện nay: Số A M, Khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 05/3/2024, Nguyễn Đức T (sinh năm 1998) đi bộ lang thang nhằm mục đích trộm cắp tài sản. Khi T đi đến trước quán B địa chỉ số A, đường M, Khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì nhìn thấy xe môtô hiệu Wave RSX, màu trắng xám, biển số 60C1-676.89 của ông Dương Thanh T2 (sinh năm 1981) đang dựng trên vỉa hè trước quán, trên xe đang cắm sẵn chìa khoá công tắc, T lén lút đi lại gần và ngồi lên yên xe, T mở chìa khoá xe, lùi xe lại rồi đề máy xe nhưng không nổ máy được, cùng lúc này anh Huỳnh Tấn N (bạn anh T2) phát hiện T trộm cắp xe môtô nên đã tri hô, T bỏ xe môtô, chạy bộ vào hẻm S nhưng do đây là hẻm cụt nên đã bị anh N, anh T2 đuổi theo bắt giữ sau đó giải đến Công an phường T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Qua test ma túy T: âm tính.
Kết luận định giá tài sản số 43-KV2/KLÐG-HĐĐGTS ngày 08/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T xác định: xe môtô biển số 60C1-676.89 trị giá 6.267.000 đồng.
Quá trình điều tra, Nguyễn Đức T khai nhận hành vi phạm tội như trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án.
* Vật chứng vụ án:
- - 01 xe môtô biển số 60C1-676.89, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại chủ sở hữu;
- - 01 USB màu đen hiệu DT101 G2;
* Trách nhiệm dân sự: Ông Dương Thanh T2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Tại Cáo trạng số 396/CT-VKSTPTĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Đức T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức T khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.
Người bị hại ông Dương Thanh T2 vắng mặt tại phiên tòa.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung: Xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức T thừa nhận khoảng 19 giờ 00 phút ngày 05/3/2024, tại quán B địa chỉ số A, đường M, Khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, Nguyễn Đức T đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 xe môtô biển số 60C1-676.89 trị giá 6.267.000 đồng của ông Dương Thanh T2 và bị quả tang.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Bị cáo là người có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng đã cố ý, lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về các tình tiết tăng nặng: Bị can phạm tội trong trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, bổ sung năm 2017.
Về các tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Đức T có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4]. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về xử lý vật chứng:
- 01 xe môtô biển số 60C1-676.89, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại chủ sở hữu;
- 01 USB màu đen hiệu DT101 G2 là phương tiện điện tử lưu hình ảnh chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội Đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Áp dụng Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ngày 05/3/2024.
3. Về xử lý vật chứng
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tiếp tục lưu 01 USB màu đen hiệu DT101 G2 trong hồ sơ vụ án.
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Đức T nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Bị cáo Nguyễn Đức T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Đỗ Chí Quang |
Bản án số 412/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 412/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
