Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 412/2024/HS-ST.

Ngày 09 - 8 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vương Thị Khánh Loan. Bà Trần Thị Hồng Ngọc.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đặng Xuân Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 398/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 404/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Trần Thái S, sinh năm 1993 tại Bình Phước (có mặt); Nơi cư trú: Tổ C, khu phố I, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L, sinh năm: 1958 và bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1962; vợ con: Không.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14 tháng 11 năm 2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ2.

2/ Họ và tên: Lê Thái D, sinh năm 1991 tại Đồng Nai (có mặt); Nơi cư trú: Không có hộ khẩu thường trú; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thế H1, sinh năm: 1967 (đã chết) và bà Phan Thị N, sinh năm 1968 (đã chết); vợ con: Không.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29 tháng 10 năm 2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1948 (có đơn xin xét xử vắng mặt). Địa chỉ: 2, tổ A, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Minh Đ năm 1991. Địa chỉ: Số 1, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 25/10/2023, bị cáo Trần Thái S1 bị cáo Lê Thái D1 tìm tài sản sơ hở để chiếm đoạt, bị cáo D2 ý. Sau đó, bị cáo D3 khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 60Z2–9837 chở bị cáo S2 thông trên các tuyến đường thuộc phường L, thành phố B tìm tài sản. Khoảng 21 giờ cùng ngày, khi cả hai đi đến đoạn đường trước số nhà :, tổ A, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Naithì nhìn thấy ông Nguyễn Văn T1 năm 1948, thường trú: Thôn C, xã C, huyện A, tỉnh Nghệ Anđang ngồi trên ghế đá đặt ven đường và sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu VIVO. Bị cáo D4 điều khiển xe mô tô áp sát ông T2 bị cáo S3 sau dùng tay phải giật lấy chiếc điện thoại trên, rồi bị cáo D5 chóng điều khiển xe mô tô chở S4 thoát. Bị cáo S5 bị cáo D6 điện thoại chiếm đoạt được đến cửa hàng điện thoại di động HPT tại địa chỉ: Khu phố A, phường A, thành phố B anh Phạm Q Đ1sinh năm 1991 làm chủ nói điện thoại của bị cáo S5 bán cho anh Đlgiá 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) rồi bị cáo D và S6 ra sài hết. Sau đó, bị cáo S5 bị cáo D7 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bbắt giữ.

Vật chứng vụ án gồm:

  • 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, số IMEI: 862310051419935, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu hồi trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn T
  • 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 60Z2-9837, số khung RLCS5C6309Y237453, số máy 5C63237454 là phương tiện bị cáo Lê Thái D sử dụng khi cướp giật tài sản. Do chưa làm rõ được nguồn gốc, chủ sở hữu, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Btiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
  • 01 USB chứa hình ảnh vụ cướp giật, lưu cùng hồ sơ vụ án.
  • Bản kết luận định giá tài sản số 580/KL-HĐĐGTS, ngày 31/12/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bkết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO có trị giá 1.725.000 đồng (Một triệu, bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Về dân sự: Ông Nguyễn Văn T3 nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.

Ông Phạm Quang Đ1 yêu cầu bồi thường.

Bản cáo trạng số: 406/CT-VKSBH ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố các bị cáo Trần Thái SLê Thái D8 về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt:

Bị cáo Trần Thái S từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù đến 04 (bốn) năm tù.

Bị cáo Lê Thái D9 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù đến 04 (bốn) năm tù.

Lời nói sau cùng của bị cáo Trần Thái S: Kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo Lê Thái D8: Kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các chứng cứ khác có tại hồ sơ và cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa mô tả.

Khoảng 21 giờ, ngày 25/10/2023, tại trước nhà số: 143, tổ A, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng NaiTrần Thái Svà Lê Thái Dcó hành vi cướp giật của ông Nguyễn Văn T4 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO trị giá 1.725.000 đồng (Một triệu, bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng) thì bị bắt giữ xử lý theo quy định.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án, bị cáo S7 người rủ rê và trực tiếp thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Bị cáo D3 khiển xe mô tô chở bị cáo S để thực hiện hành vi cướp giật. Bị cáo D10 nhân thân xấu đã 03 lần bị xét xử về tội trộm cắp tài sản và cướp giật tài sản.

[3] Từ đó có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Lê Thái D8, Trần Thái S đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang và bất bình cho quần chúng nhân dân nên cần có mức án nghiêm để cải tại giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Đối với anh Phạm Q Đ1khi mua điện thoại di động nhãn hiệu VIVO của bị cáo Trần thái S1không biết là tài sản do bị cáo S1phạm tội mà có, nên không có căn cứ để xử lý anh Đ1về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

[9] Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 60Z2-9837, số khung RLCS5C6309Y237453, số máy 5C63237454 là phương tiện bị cáo Dsử dụng khi cướp giật tài sản. Do chưa làm rõ được nguồn gốc, chủ sở hữu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Btiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

[10] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố các bị cáo Trần Thái S8 Lê Thái D8 phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Thái S 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2023.

Xử phạt bị cáo Lê Thái D11 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2023.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Trần Thái S Lê Thái D8 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa (2);
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Biên Hòa (1);
  • - Thi hành án hình sự (6);
  • - Bị cáo (2);
  • - Bị hại (1);
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (1);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Kim Dung

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hồng Ngọc

Vương Thị Khánh Loan

Trần Thị Kim Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 412/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 412/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thái Sơn + đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger