|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 412/2024/HS-PT Ngày: 19/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Công Huấn.
Các Thẩm phán:
1.Ông Nguyễn Văn Hậu.
2.Ông Nguyễn Tuấn Anh.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Huy Phúc, thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Khánh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, số A đường N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 361/2024/HS-PT ngày 15/10/2024 đối với bị cáo Nguyễn Duy N theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5614/2024/QĐXXPT-HS ngày 23/10/2024, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án sơ thẩm số 103/2024/HS-ST ngày 04/9/2024 của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Duy N: giới tính: nam; sinh năm 1963 tại tỉnh Quảng Ninh; nơi đăng ký thường trú: 3 B, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 5 G, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc Kinh; nghề nghiệp: thợ chụp ảnh; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Duy N1 (chết) và bà Nguyễn Thị N2 (chết); vợ đã ly hôn tên Trần Thị H, có 01 con sinh năm 1999;
Tiền án, tiền sự: không;
Bắt, tạm giam: 10/5/2024;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có liên quan đến kháng cáo:
Bị hại: Ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1964; nơi cư trú: 2 đường T, Phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 12/02/2024, bị cáo Nguyễn Duy N điều khiển xe máy Honda Future mang biển số 5953-245.83 chở bạn gái là bà Đặng Tài T1 đến khu vực bên hông nhà số B đường T, Phường C, Quận D, mua của vợ chồng ông Nguyễn Tấn T và bà Ngô Thị N3 một nửa con gà đã làm sẵn nặng 1,4kg với giá 165.000đ. Khi về đến nhà, bà T1 đem gà ra cân lại thì thấy chỉ có 1kg nên nói lại cho N biết. N cầm theo gà và cái cân của bà T1, điều khiển xe máy đi đến gặp ông T, bà N3 để chất vấn thì đôi bên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã với nhau. N bực tức, điều khiển xe đi về nhà số E gò Ô, phường P, Quận G (nơi N thuê) thay áo và lấy 01 con dao dài khoảng 60cm, lưỡi dao bằng kim loại nhọn vát xéo (có sẵn trong nhà), dùng miếng vải màu đen quấn con dao lại, để trên baga xe máy, rồi điều khiển xe đi đến nơi vợ chồng ông T, bà N3 đang bán. Khoảng 10 giờ 15 phút cùng ngày thì N đi đến nơi và dừng xe ở vị trí phía đối diện nơi ông T, bà N3 đang bán gà. N xuống xe, tay trái cầm dao và đi đến chỗ ông T. Khi thấy ông T đang khom người dọn dẹp vật dụng mua bán, N dùng tay phải đánh vào đầu ông T 01 cái. Ông T đứng dậy và lấy cây chổi cán gỗ dài khoảng 02m đánh lại, N đưa tay phải lên đỡ. Sau đó, N tháo miếng vải màu đen quấn con dao đang cầm ra, cầm dao bằng tay phải chém qua lại nhiều nhát vào người ông T. Ông T dùng chổi đỡ và lùi về phía sau. Do bị rơi chổi nên ông T lấy cái rổ bằng nhựa để đỡ thì bị N chém trúng tay trái và tay phải. Ông T bỏ chạy thì bị vấp ngã. N chạy đến dùng dao chém trúng vào đùi trái của ông T. Thấy ông T bị chảy máu và được mọi người can ngăn nên N dừng lại. Ông T được những người trong gia đình đưa đi bệnh viện C để cấp cứu và đến Công an P, Quận D để trình báo.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 829/TgT.22 ngày 14/10/2024 của Trung tâm Giám định pháp y – Sở Y tế Thành phố H kết luận về thương tích của ông Nguyễn Tấn T như sau:
Vết thương vùng bờ trụ cổ bàn tay trái gây đứt da, đứt gân duỗi ngón V, gãy nền xương bàn ngón V đã được điều trị hiện còn: 01 sẹo kích thước 12x0,2cm; hình ảnh kết hợp xương trên phim X; tổn thương nhánh cảm giác bì trụ mu tay ngay vị trí vết thương trên điện cơ đồ; hình ảnh mất liên tục một phần gân duỗi ngón V kèm viêm tụ dịch khớp do dụng cụ kết hợp xương trên siêu âm; hạn chế duỗi ngón V và vận động cổ tay, giảm cảm giác nửa trong mu bàn tay. Vết thương do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra. Có tỷ lệ 22%.
Đa vết thương phần mềm đã được điều trị hiện còn: 02 sẹo vùng mặt mu gốc ngón III và IV tay phải kích thước 2,5x0,1 và 1,5x0,1cm; 01 sẹo vùng mặt mu đốt 1 ngón III và IV tay phải kích thước 2,5x0,1cm; 01 sẹo vùng mặt mu gốc ngón II tay trái kích thước 1,5x0,1cm; 01 sẹo vùng mặt sau ngoài đùi trái kích thước 15,5x(0,1-0,8)cm. 05 vết thương trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra. Có tỷ lệ 01% mỗi vết ở tay, 03% vết ở đùi.
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Tấn T tại thời điểm giám định là 27%.
Tại Cơ quan điều tra, N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu.
Về con dao sử dụng làm công cụ phạm tội: N khai rằng đã ném vào thùng rác cạnh trụ đèn số 07 đối diện số E đường N, Phường A, Quận D. Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu hồi được.
Trong quá trình đánh nhau, N cũng bị ông T đánh lại gây trầy xước, Nam xác định vết thương nhỏ hiện đã lành, N có đơn từ chối giám định thương tật và không yêu cầu xử lý đối với ông T.
Cáo trạng số 113/CT-VKSQ4 ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát Nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Duy N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 103/2024/HS-ST ngày 04/9/2024 của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định như sau:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm x khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt Nguyễn Duy N 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2024.
Ngoài ra, bản án còn tuyên áp dụng các biện pháp tư pháp, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo và các đương sự.
Ngày 09/9/2024, bị cáo có đơn kháng cáo với nội dung: Mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là quá nặng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày lý do kháng cáo như sau: Bị cáo là thương binh. Lúc đầu, bị cáo chỉ có ý định hù dọa ông T nhưng do ông T thách đố bị cáo nên bị cáo mới chém ông T bằng sống dao.
Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết kháng cáo như sau: Việc Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức án 02 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt là tương xứng với tính chất, mức độ vi phạm. Bị cáo chưa thành khẩn khai báo nên Tòa án cấp sơ thẩm không cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là đúng quy định. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt với Nguyễn Tấn T xuất phát từ việc mua bán thịt gà, vào khoảng 10 giờ 15 phút ngày 12/02/2024, ở khu vực bên hông nhà số B đường T, Phường C, Quận D, bị cáo Nguyễn Duy N đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm là con dao dài khoảng 60cm, chém ông T nhiều nhát trúng vào tay và đùi ông T. Theo kết quả giám định của Cơ quan có thẩm quyền thì ông T bị tổn thương cơ thể 27%.
[2].Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của minh là sai trái nhưng vẫn cố ý vi phạm.
[3].Căn cứ vào các nhận định đã nêu, đối chiếu với quy định của pháp luật, có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án bị cáo theo tội danh, điều luật như đã nêu là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4]. Về kháng cáo của bị cáo:
Hành vi của bị cáo mức độ nguy hiểm cao, phạm tội thuộc trường hợp có 02 tình tiết định khung hình phạt tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự đó là có tính chất côn đồ và sử dụng hung khí nguy hiểm.
Bị cáo là người cao tuổi, là thương binh nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật sự hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có căn cứ.
Mức án 02 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là tương xứng với tính chất mức độ vi phạm và tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, đây cũng là mức án thấp nhất trong khung hình phạt.
Vì các lý do đã nêu, cần chấp nhận theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữ nguyên bản án sơ thẩm; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
[5].Trong vụ án này, bị cáo đã dùng chiếc xe máy Honda Future mang biển số 59S3-245.83 làm phương tiện phạm tội. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự thì phải tịch thu chiếc xe đã nêu sung vào ngân sách Nhà nước (không có trường hợp ngoại lệ). Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm lại nhận định bị cáo là thương binh, tiền mua xe máy trên từ tiền trợ cấp của thương binh, là phương tiện kiếm sống duy nhất của bị cáo để trả lại xe cho bị cáo. Việc xử lý như vừa nêu là không đúng quy định. Nhưng do không có kháng cáo, kháng nghị về nội dung này nên Hội đồng xét xử không xem xét lại. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[6].Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy N, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 103/2024/HS-ST ngày 04/9/2024 của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh,
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy N 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích", thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2024.
2.Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Công Huấn |
Bản án số 412/2024/HS-PT ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - cố ý gây thương tích
- Số bản án: 412/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy N, CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH, GIỮ NGUYÊN BẢN ÁN SƠ THẨM
