TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
---------------- | ---------------- |
Bản án số: 412/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24 - 9 - 2024
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hồng Vân
Các Hội thẩm nhân dân Ông Mai Xuân Thường
Bà Bùi Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thanh Tâm, thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bằng Giang, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 322/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024, về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 341/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1974. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Vũ Phương A, sinh năm 1978. Vắng mặt.
Địa chỉ: Số B, đường N, khối T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Số B, đường N, khối T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Hiện nay đang ở Cộng hòa S.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai - Nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:
Anh và chị Vũ Phương A kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 28/10/1998 tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc với nhau. Do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên chị Vũ Phương A làm thủ tục đi lao động tại Cộng hòa S, còn anh T ở Việt Nam chăm sóc con. Thời gian đầu chị A sang nước ngoài thì tình cảm vợ chồng vẫn bình thường, sau đó vợ chồng xa cách và ít liên lạc, quan tâm đến nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh T làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn chị Vũ Phương A.
Về con chung: Anh Nguyễn Văn T và chị Vũ Phương A có 02 con chung là Nguyễn Thị Linh T1, sinh ngày 20/9/1999 và Nguyễn Thị Linh C, sinh ngày 23/6/2002. Hiện hai cháu đã đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là chị Vũ Phương A:
Quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, bị đơn là chị Vũ Phương A vắng mặt. Anh Nguyễn Văn T không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay chị A cư trú, anh chỉ biết hiện nay chị A đang sinh sống tại Cộng hòa S. Tòa án đã hai lần gửi văn bản yêu cầu chị Nguyễn Thị Linh T1 (là con ruột của chị A), trú tại: Nhà A, ngách C, ngõ E đường N, thành phố V, tỉnh Nghệ An cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cũng như yêu cầu chị T1 thông báo với chị A để gửi lời khai về cho Tòa án. Tuy nhiên, tại đơn trình bày của chị T1 cho biết thời gian ở nước ngoài, chị A thường xuyên liên lạc về với chị T1 qua facebook, còn địa chỉ cụ thể của chị A thì chị A không cung cấp nên chị T1 không biết. Chị T1 đã thông báo cho chị A biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa anh T và chị A nhưng chị A không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Nguyễn Văn T ly hôn với chị Vũ Phương A.
Về con chung: Anh T và chị A có 02 con chung là Nguyễn Thị Linh T1, sinh ngày 20/9/1999 và Nguyễn Thị Linh C, sinh ngày 23/6/2002. Hiện nay cháu đã trưởng thành, đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu nên không xem xét; dành quyền khởi kiện về chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Văn Thiện cư trú tại Việt Nam làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với chị Vũ Phương A hiện cư trú ở nước ngoài; trước khi xuất cảnh, chị A có địa chỉ cư trú tại Số B, đường N, khối T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là chị Vũ Phương A vắng mặt, Tòa án đã gửi công văn yêu cầu chị Nguyễn Thị Linh T1 (Là con đẻ của chị A) cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn và thông báo cho chị A biết để gửi lời khai về cho Tòa án. Tuy nhiên, chị T1 không cung cấp được địa chỉ hiện nay của chị A. Đến nay, Tòa án vẫn chưa nhận được văn bản trình bày ý kiến của chị A liên quan đến yêu cầu khởi kiện, nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung, Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng tại địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của chị A trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn anh Nguyễn Văn T có đơn xin xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Anh Nguyễn Văn T và chị Vũ Phương A kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc với nhau. Do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên chị Vũ Phương A làm thủ tục đi lao động tại Cộng hòa S. Thời gian đầu chị A sang nước ngoài thì tình cảm vợ chồng vẫn bình thường, sau đó vợ chồng xa cách và ít liên lạc, quan tâm đến nhau. Xét thấy, anh T và chị A không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho anh Nguyễn Văn T được ly hôn chị Vũ Phương A.
[2.2] Về con chung: Anh Nguyễn Văn T và chị Vũ Phương A có 02 con chung là Nguyễn Thị Linh T1, sinh ngày 20/9/1999 và Nguyễn Thị Linh C, sinh ngày 23/6/2002. Hiện nay hai cháu đã đủ tuổi trưởng thành, đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Văn T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện về tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
[3] Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 37, Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 1, khoản 4 Điều 207, Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T được ly hôn chị Vũ Phương A.
- - Về con chung: Hiện con chung đã đủ tuổi trưởng thành, đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.
- Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0012962 ngày 25/6/2024, tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Chị Vũ Phương A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T.
Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Thái Thị Hồng Vân |
Bản án số 412/2024/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 412/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Nguyễn Văn T được ly hôn chị Vũ Phương A
