Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 411/2024/HS-ST

Ngày: 26-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Ngọc Cảnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thúy

Bà Chu Thị Kim Oanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thơm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Trà Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 206/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 421/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

LÊ THANH HẢI, sinh ngày 14/8/1991 tại Hà Nội; ĐKHKTT và nơi cư trú: Phòng 2808 - HH2B Chung cư L, phường H, quận H, TP Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ngọc Q (đã chết) và bà Phan Nhi T; có vợ Nguyễn Ngọc Vân A và 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại giam S1 - Công an T5, có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo:

Ông Nguyễn Quang T1 - Luật sư Văn phòng L2 và cộng sự thuộc Đoàn luật sư thành phố H, có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Nguyễn Đức L, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số nhà I, ngõ A, tổ C, phường Đ, quận H, TP Hà Nội, vắng mặt.
  2. Chị Nguyễn Ngọc Vân A, sinh năm 1995; nơi cư trú: P - HH2B Chung cư L, phường H, quận H, TP Hà Nội, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 15 phút ngày 18/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC04), Công an thành phố T5 làm nhiệm vụ tại khu vực cây xăng số E, đường T, phường M, quận H, Hà Nội, phát hiện Nguyễn Đức L, đi xe ô tô nhãn hiệu Toyota BKS: 29A - 558.XX có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, thu giữ 01 túi nylon kích thước khoảng 04x06 cm trong có lọ nhựa chứa chất bột màu trắng. L khai là ma tuý Cocaine mua của Lê Thanh H trú tại P chung cư H L, phường H, quận H, Hà Nội.

Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Thanh H, thu giữ:

  • 06 (sáu) túi nylon bên trong đều chứa chất bột màu trắng;
  • 03 (ba) cân điện tử dính chất bột màu trắng;

Ngoài ra còn thu giữ của H: 02 thẻ ngân hàng; 03 (ba) điện thoại di động và 01 (một) xe máy.

Bản kết luận giám định số 8423/KL-KTHS ngày 25/12/2023 của Phòng K - Công an T5 kết luận:

  • Tang vật thu giữ của Nguyễn Đức L:
    • + Chất bột màu trắng bên trong 01 (một) lọ nhựa là ma tuý loại Cocaine, khối lượng 0,080 gam.
  • Tang vật thu giữ của Lê Thanh H gồm:
    • + Chất bột màu trắng bên trong 06 (sáu) túi nylon đều là ma tuý loại Cocaine, tổng khối lượng: 9,290 gam.
    • + 03 cân điện tử đều có dính ma tuý loại Cocaine;

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Đức L khai: L đã nhiều lần mua Cocaine của H để sử dụng, khoảng 10 giờ 30 phút ngày 18/12/2023, L gọi điện hỏi mua của H 01 gam Cocaine với giá 5.500.000 đồng về sử dụng. H hẹn L đến khu vực số I Đ, quận H, Hà Nội để nhận ma tuý và chuyển tiền vào tài khoản cho H. Sau khi mua được ma tuý, L đã sử dụng một ít, số còn lại bị kiểm tra, thu giữ.

Do hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của Nguyễn Đức L chưa đủ khối lượng để xử lý hình sự nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Đức L về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, mức phạt 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) và trả lại chiếc xe ô tô trên cho L.

Lê Thanh H khai: Qua mối quan hệ xã hội, H quen Đặng Nhật Đ, sinh năm 1987 trú tại số G phố H, phường B, quận H, Hà Nội. H nói không có việc làm ổn định nên Đ đưa ma tuý cho H bán. Khoảng tháng 10/2023, Đ đưa cho H chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, sim số 0389197547 có lưu sẵn các số điện thoại của khách mua ma tuý để H giao dịch. Đ đã nhiều lần đưa C cho H bán, mỗi lần từ 05 gam đến 10 gam. Ban đầu Đ bảo H bán với giá 5.000.000 đồng/gam Cocaine (năm triệu đồng). Khoảng giữa tháng 11/2023, Đ bảo H tăng giá bán lên 5.500.000 đồng/gam Cocaine (Năm triệu năm trăm nghìn đồng). H được hưởng lợi 500.000 đồng/gam C (Năm trăm nghìn đồng). H sử dụng tài khoản số [...] mang tên Nguyễn Ngọc Vân A (vợ H) mở tại Ngân hàng T6 để giao dịch mua bán ma tuý với khách. Khi có khách gọi điện hỏi mua C, H thống nhất số lượng, giá cả và địa điểm để mang đến giao cho khách. Sau đó khách mua sẽ chuyển tiền vào tài khoản trên cho H. H giữ lại tiền công 500.000 đồng/gam Cocaine. H chuyển tiền vào tài khoản mang tên Đặng Nhật Đ. Ngày 15/12/2023, H chuyển 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) tiền bán C cho Đ vào tài khoản mang tên Chử Đào Nhật H1 (vợ Đ). Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 18/12/2023, H mang 01 gam Cocaine đến bán cho Nguyễn Đức L thì bị kiểm tra bắt giữ. Việc H mua bán ma tuý không có ai biết và tham gia.

Căn cứ Biên bản kiểm tra điện thoại; Bảng kê chi tiết cuộc gọi đi, gọi đến, vị trí cột sóng số điện thoại của H, của các đối tượng liên quan xác định, số điện thoại 0389.197.xxx của Lê Thanh H sử dụng có lưu, liên lạc với các số điện thoại của các đối tượng mua ma tuý.

Cơ quan điều tra tiến hành xác minh, xác định chủ thuê bao có các số điện thoại liên lạc với H để mua ma tuý và lấy lời khai của các đối tượng gồm: Đặng Hương L1, sinh năm 1982, trú tại: số G T, H, Hà Nội; Võ Thái S, sinh năm 1982, trú tại: số C TT TCT Giấy Việt Nam, 18C P, H, Hà Nội; Dương Trần Q1, sinh năm 1982, trú tại: số E ngõ D N, B, H, Hà Nội; Phạm Hoài Đ1, sinh năm 1989, trú tại: số B Quán T, B, Hà Nội; Bùi Mạnh T2, sinh năm 1990, trú tại: số B Đ, Quán T, B, Hà Nội là các khách mua Cocain của Lê Thanh H, các đối tượng nêu trên đều thừa nhận đã nhiều lần mua Cocain của H để sử dụng và chuyển khoản trả tiền mua C1 vào tài khoản Nguyễn Ngọc Vân A.

Cơ quan điều tra tiến hành xét nghiệm xác định: Võ Thái S, Dương Trần Q1, Phạm Hoài Đ1, Bùi Mạnh T2 âm tính với ma tuý. Đặng Hương L1 dương tính với ma tuý C, cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Đặng Hương L1 về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, mức phạt 1.500.000 đồng.

Thu giữ bảng kê giao dịch của 02 số tài khoản mang tên Nguyễn Ngọc Vân A và Lê Thanh H tại Ngân hàng T6, xác định từ ngày 18/10/2023 đến ngày 18/12/2023, các giao dịch chuyển khoản số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) và 5.500.000 đồng (Năm triệu năm trăm nghìn đồng) là tiền khách mua ma tuý chuyển khoản cho H, tổng cộng H đã bán 47 gam Cocaine, phù hợp với lời khai của H và các đối tượng mua ma tuý.

Nguyễn Ngọc Vân A khai: đứng tên mở tài khoản số [...] tại Ngân hàng T6 và để cho H (chồng Vân A) sử dụng. Vân A không biết H mua bán ma tuý và dùng số tài khoản trên để giao dịch mua bán ma tuý. Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu ghi, BKS: 29H2 - 463.XX là của Nguyễn Ngọc Vân A hiện đang mua trả góp hàng tháng, đăng kí tên chủ sở hữu là Nguyễn Ngọc Vân A, có đầy đủ giấy tờ, hợp đồng mua bán, trả góp.

Do Nguyễn Ngọc Vân A khai không biết việc H mua bán ma tuý nên Cơ quan điều tra không đề cặp xử lý.

Đối với Đặng Nhật Đ và Chử Đào Nhật H1, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng cả hai không có mặt tại địa phương. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách rút tài liệu liên quan đến Đặng Nhật Đ và Chử Đào Nhật H1 để điều tra làm rõ và xử lý sau.

Bản cáo trạng số 188/CT-VKS-P1 ngày 06/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Lê Thanh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Lê Thanh H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã quy kết. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình; ăn năn, hối cải, mong được hưởng sự khoan hồng của pháp luật sớm trở về gia đình làm công dân tốt chăm sóc con, nuôi mẹ già.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cùng các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra đã giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đối với bị cáo Lê Thanh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Thanh H từ 16 đến 17 năm tù. Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
  • Về xử lý vật chứng: Trả lại anh Nguyễn Đức L 02 thẻ ngân hàng, 01 điện thoại di động; trả lại bị cáo Lê Thanh H 01 điện thoại Samsung, 01 điện thoại Iphone; trả lại cho chị Nguyễn Ngọc Vân A 01 xe máy. Tiêu hủy số ma túy và tang vật khác.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Thanh H trình bày luận cứ bào chữa không có ý kiến về tội danh và điều luật Viện kiểm sát quy kết. Luật sư đề nghị xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo là lao động chính trong gia đình, do dịch bệnh không có công việc ổn định nên phạm tội; tại cơ quan điều tra và phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; nhân thân chưa tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; số ma túy đã thu giữ, chưa phát tán ngoài xã hội; gia đình có ông nội Lê Thắng T3 là người có công với cách mạng. Luật sư đề nghị áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát để sớm có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố T5, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Thanh H phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, những người làm chứng, tang vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng tháng 10/2023, Lê Thanh H đã mua C về để bán kiếm lời. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 18/12/2023, H mang 0,080 gam Cocaine đến số I Đ, quận H, Hà nội để bán cho Nguyễn Đức L. Sau khi mua được ma tuý, L mang về đến khu vực cây xăng số E, phố T, phường M, quận H, Hà Nội thì bị kiểm tra bắt giữ. Khám xét chỗ ở của Lê Thanh H thu giữ 9,290 gam Cocaine. Ngoài ra căn cứ vào lời khai của Lê Thanh H, lời khai của các đối tượng mua ma tuý và Sao kê tài khoản ngân hàng, xác định từ ngày 18/10/2023 đến ngày 18/12/2023 Lê Thanh H đã bán tổng cộng 47 gam Cocaine cho nhiều đối tượng khác. Do đó tổng trọng lượng ma túy Lê Thanh H đã mua bán là 56,37 gam Cocaine (gồm 0,080 gam Cocaine bán cho L + 9,290 gam Cocaine thu tại chỗ ở + 47 gam Cocaine đã bán cho các đối tượng). Hành vi mua bán trái phép 56,37 gam ma túy loại Cocaine của bị cáo Lê Thanh H thuộc trường hợp “.......Cocaine... có trọng lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam”. Chính vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Lê Thanh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất của vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, tiếp tay cho các đối tượng mua bán và sử dụng trái phép chất ma túy, gây tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội, là nguồn gốc phát sinh ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, hoang mang lo lắng, bất bình trong nhân dân; hơn nữa các hành vi về ma túy trong xã hội ngày càng gia tăng về đối tượng tội phạm cũng như mức độ phạm tội, số lượng ma túy mà các bị cáo phạm tội ngày càng đặc biệt lớn gây bức xúc trong xã hội, Đảng và Nhà nước ta đang quyết tâm loại bỏ các hành vi về ma túy ra khỏi đời sống xã hội, trừng trị thích đáng tội phạm về ma túy. Do vậy đối với bị cáo cần phải xử phạt thật nghiêm khắc nhằm đáp ứng yêu cầu trừng trị, răn đe, đấu tranh và phòng ngừa các loại tội phạm này nói chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

  • Tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • Giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội; bị cáo có ông nội Lê Thắng T3 là người có công với cách mạng tham gia kháng chiến được tặng thưởng huy chương hạng nhì; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, con còn nhỏ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy cũng nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, nhằm tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo sớm được trở về hòa nhập với gia đình và xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn và không có khả năng thi hành hình phạt nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • 01 điện thoại Nokia thu giữ của bị cáo và 01 điện thoại logo hình quả táo thu giữ của anh Nguyễn Đức L đều liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • 02 thẻ ngân hàng thu giữ của anh Nguyễn Đức L không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho anh L.
  • 01 điện thoại Samsung và 01 điện thoại Iphone là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
  • 01 xe máy thgu giữ là tài sản của chị Nguyễn Ngọc Vân A bị cáo sử dụng đi phạm tội chị Vân A không biết nên trả lại cho chị Vân A.
  • Ma túy và tang vật khác không có giá trị nên tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Thanh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thanh H 17 (Mười bẩy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2023.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự,
  4. - Tiêu hủy:

    • + Một phong bì niêm phong, trên có ghi “quả tang”, trên mép dán có chữ kí của giám định viên Nguyễn Văn H2, cán bộ Nguyễn Thành T4, đương sự Nguyễn Đức L và đóng dấu của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an T5. Không kiểm tra được bên trong niêm phong.
    • + Một phong bì niêm phong, có ghi “cân điện tử”, trên mép dán phong bì có kí tên giám định viên Nguyễn Văn H2, cán bộ Nguyễn Thành T4, đương sự Lê Thanh H và đóng dấu của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an T5. Không kiểm tra được bên trong niêm phong.
    • + Một phong bì niêm phong, có ghi “khám xét”, trên mép dán phong bì có kí của giám định viên Nguyễn Văn H2, cán bộ Nguyễn Thành T4, đương sự Lê Thanh H và đóng dấu của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an T5. Không kiểm tra được bên trong niêm phong.

    - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động có chữ Nokia màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động bên trong và 01 điện thoại có logo hình quả táo, màu trắng, vỡ mặt lưng; không kiểm tra được Imei, đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động bên trong.

    - Trả lại:

    • + Anh Nguyễn Đức L 02 thẻ ngân hàng T6 mang tên NGUYEN DUC LOI, đã qua sử dụng.
    • + Bị cáo Lê Thanh H 01 điện thoại di động Samsung màu đen trắng, đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động bên trong và 01 điện thoại Iphone màu trắng, có imei: 358688056712367, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động bên trong.
    • + Chị Nguyễn Ngọc Vân A xe máy có chữ Honda Vision màu ghi, gắn biển kiểm soát: 29H2 - 46.3XX số khung RLHJK0352PY041554, số máy JK03E8165724, một số bộ phận bên trong đã bị hoen gỉ, đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động bên trong máy. Theo phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ xe có thông tin như sau: Biển số: 29H2 - 463.XX; loại xe: 2 bánh từ 50-175cm3; Nhãn hiệu: HONDA; Màu sơn: xám đen; Dung tích xi lanh: 109,5 cm2; Số khung: RLHJK0352PY041554, số máy JK03E8165724.

    (Tang vật hiện lưu giữ tại Kho vật chứng Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/5/2024 giữa Công an thành phố T5 với Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội).

  5. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
    • - Bị cáo Lê Thanh H phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
    • - Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - Công an thành phố Hà Nội;
  • - Cục T.H.A Dân sự thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Ngọc Cảnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 411/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 411/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh H - Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger