|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 411/2023/DS-ST Ngày 21 tháng 8 năm 2023 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Sơn Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Ngọc Cảnh
- Ông Nguyễn Văn Vân.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đức, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh: Không tham gia phiên tòa.
Trong ngày 21/8/2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 54/2022/TLST-DS ngày 24/01/2022 về việc “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 405/2023/QĐXXST-DS ngày 27/7/2023, giữa:
Nguyên đơn: Bà Đặng Thanh H, sinh năm 1990 (có mặt)
Địa chỉ: Số F Tỉnh lộ 2, ấp V, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Bà Trần Thị Mỹ H1, sinh năm 1970 (có đơn đề nghị vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ H, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 20/12/2021, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa,nguyên đơn bà Đặng Thanh H trình bày:
Ngày 24/7/2020, bà H có cho bà Trần Thị Mỹ H1 vay số tiền là 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng, thời hạn vay là 03 (ba) năm, kể từ ngày ký hợp đồng, lãi suất là 1,75%/tháng. Hai bên thống nhất là ngày trả nợ là 24/7/2023, nhưng vì lý do riêng, bà H có đề nghị bà H1 rút ngắn thời gian trả nợ. Đến ngày 08/12/2021, bà H1 tiếp tục mượn của bà H số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng chuyển khoản vào tài khoản của Nguyễn Thùy L (là con bà H1) tại Ngân hàng Q. Như vậy, số tiền bà H1 vay mượn của bà H tổng cộng là 2.500.000.000 (hai tỷ năm trăm triệu) đồng. Bà H1 hẹn trong thời hạn 05 (năm) ngày sẽ trả và cam kết dùng tài sản thuộc sở hữu của bà H1 để trả nợ cho bà H. Đến thời hạn cam kết trả nợ, bà H1 không trả cho bà H số tiền nợ nêu trên. Bà H đã nhiều lần yêu cầu bà H1 trả nợ nhưng bà H1 trốn tránh, cố tình không chịu thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy, bà H khởi kiện yêu cầu bà H1 trả số tiền nợ gốc là 2.500.000.000 (hai tỷ năm trăm triệu) đồng, yêu cầu trả tiền khi bản án có hiệu lực. Bà H rút lại yêu cầu bà H1 trả tiền nợ lãi tạm tính là 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng như đơn khởi kiện ngày 20/12/2021.
Bị đơn bà Trần Thị Mỹ H1 thừa nhận có vay mượn số tiền như phía nguyên đơn trình bày. Bà H1 đồng ý trả nợ, nhưng do bà H1 chưa đòi được tiền bà Nguyễn Thị Thu T nợ là 1.500.000.000 (một tỷ năm trăm triệu) và bà Đặng Thị Tuyết N nợ là 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng. Vì vậy, bà H1 đồng ý ủy quyền cho bà H xử lý số tiền nợ của bà T và bà N để cấn trừ nợ. Do con bà H1 đang bệnh nặng, nên bà có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Căn cứ đơn khởi kiện của bà Đặng Thanh H và những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp là “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” quy định tại Điều 463 của Bộ luật Dân sự, thuộc trường hợp “Tranh chấp về hợp đồng dân sự” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Bị đơn bà Trần Thị Mỹ H1 cư trú tại Tổ H, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà H1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà H1.
[3] Bà H và bà H1 cùng xác nhận việc bà H có cho bà H1 vay, mượn số tiền tổng cộng là 2.500.000.000 (hai tỷ năm trăm triệu) đồng vào các ngày 24/7/2021 và 08/12/2021, đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Tại phiên tòa, bà H rút một phần yêu cầu khởi kiện là yêu cầu bà H1 trả tiền nợ lãi. Hội đồng xét xử xét xét thấy việc rút yêu cầu của bà H là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, nên căn cứ vào khoản 2 Điều 5, Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu tính lãi của bà H.
[5] Hội đồng xét xử xét yêu cầu của bà H buộc bà H1 phải trả số tiền nợ gốc là 2.500.000.000 (hai tỷ năm trăm triệu) đồng, khi bản án có hiệu lực pháp luật, không tính tiền lãi. Như nhận định tại Mục [3], bà H1 xác nhận nợ bà H số tiền nợ gốc 2.500.000.000 (hai tỷ năm trăm triệu) đồng. Bà H1 cam kết trả nợ, nhưng khi đến hạn bà H1 không thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết. Hội đồng xét xử xét thấy tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự quy định “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H; buộc bà H1 phải trả cho bà H số tiền nợ gốc là 2.500.000.000 (hai tỷ năm trăm triệu) đồng khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[6] Đối với lời trình bày của bà H1 đồng ý ủy quyền cho bà H xử lý số tiền nợ của bà T và bà N để cấn trừ nợ của bà H1. Tại phiên tòa, bà H không chấp nhận việc cấn trừ nợ của bà H1. Hội đồng xét xử xét thấy việc cấn trừ nợ theo trình bày của bà H1 không được bà H chấp nhận nên không có cơ sở để xem xét giải quyết trong vụ án này. Trường hợp bà H1 có tranh chấp đối với giao dịch vay mượn nợ giữa bà H1 với bà T, bà N sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu án phí do toàn bộ yêu cầu được chấp nhận. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[8] Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 463, khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự;
Áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thanh H.
Buộc bà Trần Thị Mỹ H1 có nghĩa vụ trả cho bà Đặng Thanh H số tiền nợ gốc 2.500.000.000 (hai tỷ năm trăm triệu) đồng, thi hành khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà H cho đến khi thi hành án xong, bà H1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của bà H yêu cầu bà H1 trả tiền lãi tạm tính là 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng.
- Bà Trần Thị Mỹ H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 82.000.000 (tám mươi hai triệu) đồng.
Bà Đặng Thanh H không phải chịu án phí sơ thẩm. Hoàn trả cho bà H tiền tạm ứng án phí đã nộp là 44.000.000 (bốn mươi bốn triệu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0043777 ngày 24/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.
- Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - Đương sự (02); - VKSND huyện Củ Chi (02); - Chi cục THADS huyện Củ Chi (01); - TAND TP. Hồ Chí Minh (02); - Lưu: VP, Hồ sơ vụ án (02). |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Sơn Hà |
Bản án số 411/2023/DS-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 411/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
