|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 411/2025/DS-ST
Ngày: 22 - 12 - 2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Hà
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Thắng
- Ông Văn Công Trọn
- - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Mỹ Tiên là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 245/2025/TLST-DS ngày 08 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 477/2025/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V; Địa chỉ: Số H, L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D; Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Minh K, sinh năm 1997; Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ pháp lý (Xin vắng mặt).
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1975; CCCD số [...] cấp ngày 07/7/2022; Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/6/2025 và các bản tự khai, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lê Minh K trình bày:
- Ngày 02/01/2024 bà Nguyễn Thị C có ký kết với Ngân hàng thương mại cổ phần V Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ LN2401021422207, với hạn mức tín dụng là 89.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, thời hạn vay 60 tháng, giải ngân ngày 08/01/2024.
Lãi suất được xác định như sau:
Lãi suất điều chỉnh: đối với khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng thì lãi suất cho vay tối đa là 25% được cố định trong 03 tháng kể từ ngày giải ngân và sau đó lãi suất cho vay được điều chỉnh theo định kỳ 01 tháng/01 lần. Đối với khoản vay có thời hạn cho vay trên 12 tháng thì lãi suất cho vay tối đa là 26% được cố định từ ngày giải ngân đến kỳ điều chỉnh lãi suất gần nhất, trường hợp thời gian vay thực tế từ ngày giải ngân đến kỳ điều chỉnh lãi suất gần nhất chưa đủ 03 tháng, lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân được giữ cố định đến hết kỳ điều chỉnh lãi suất gần nhất đó và sau đó lãi suất cho vay được điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng/01 lần. Việc điều chỉnh lãi suất được thực hiện định kỳ vào các ngày 01/01, 01/4, 01/7, 01/10 hàng năm.
Lãi suất cho vay điều chỉnh được xác định bằng mức lãi suất tham chiếu áp dụng đối với khoản vay có thời hạn cho vay tương ứng với thời hạn cho vay được đề nghị nêu tại phần II cộng với biên độ điều chỉnh tối đa là 18% mức lãi suất tham chiếu được xác định theo biểu lãi suất tham chiếu và biên độ lãi suất linh hoạt VND áp dụng đối với các khoản vay không có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân tại V1 được được V1 công bố.
Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, bà C đã thanh toán nợ gốc số tiền 1.920.190 đồng, còn lại nợ gốc số tiền 87.019.810 đồng. Do bà C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ (gốc và lãi) theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng nên khoản vay đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 15/5/2024.
Tính đến ngày 22/12/2025 bà C nợ Ngân hàng tổng số tiền 142.455.313 đồng (Trong đó, nợ gốc 87.019.810 đồng và nợ lãi 55.375.503 đồng). Nay Ngân hàng yêu cầu bà C thanh toán cho Ngân hàng số tiền này và khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 23/12/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc theo mức lãi thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng.
Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị C: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham dự phiên tòa nhưng không có mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà C về các nội dung khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Do người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Lê Minh K có đơn đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt và bị đơn bà Nguyễn Thị C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà không có mặt tại phiên tòa nên căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông K, bà C.
[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ngày 02/01/2024 bà Nguyễn Thị C có ký kết với Ngân hàng thương mại cổ phần V Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ LN2401021422207, với hạn mức tín dụng là 89.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, thời hạn vay 60 tháng. Lãi suất được xác định như sau: Lãi suất điều chỉnh: đối với khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng thì lãi suất cho vay tối đa là 25% được cố định trong 03 tháng kể từ ngày giải ngân và sau đó lãi suất cho vay được điều chỉnh theo định kỳ 01 tháng/01 lần. Đối với khoản vay có thời hạn cho vay trên 12 tháng thì lãi suất cho vay tối đa là 26% được cố định từ ngày giải ngân đến kỳ điều chỉnh lãi suất gần nhất, trường hợp thời gian vay thực tế từ ngày giải ngân đến kỳ điều chỉnh lãi suất gần nhất chưa đủ 03 tháng, lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân được giữ cố định đến hết kỳ điều chỉnh lãi suất gần nhất đó và sau đó lãi suất cho vay được điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng/01 lần. Việc điều chỉnh lãi suất được thực hiện định kỳ vào các ngày 01/01, 01/4, 01/7, 01/10 hàng năm; Lãi suất cho vay điều chỉnh được xác định bằng mức lãi suất tham chiếu áp dụng đối với khoản vay có thời hạn cho vay tương ứng với thời hạn cho vay được đề nghị nêu tại phần II cộng với biên độ điều chỉnh tối đa là 18% mức lãi suất tham chiếu được xác định theo biểu lãi suất tham chiếu và biên độ lãi suất linh hoạt VND áp dụng đối với các khoản vay không có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân tại V1 được được V1 công bố; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Xét thấy, việc giao kết hợp đồng tín dụng giữa đôi bên là thực tế có xảy ra. Các bên đều là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và tự nguyện khi giao kết hợp đồng tín dụng. Mục đích và nội dung của hợp đồng tín dụng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, hợp đồng tín dụng nêu trên có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm giao kết.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, bà C đã thanh toán nợ gốc số tiền 1.920.190 đồng, lại nợ gốc số tiền 87.019.810 đồng. Do bà C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ (gốc và lãi) theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng nên khoản vay đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 15/5/2024.
Nay Ngân hàng yêu cầu bà C thanh toán nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm tổng số tiền 142.455.313 đồng (Trong đó, nợ gốc 87.019.810 đồng, lãi trong hạn 36.917.002 đồng, lãi quá hạn 18.458.501 đồng).
Bị đơn bà C đã nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng.
Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của
cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.
Do bà C không phản đối những tình tiết, tài liệu, chứng cứ mà Ngân hàng đưa ra nên Ngân hàng không phải chứng minh. Như vậy, việc bà C đã vay và còn nợ Ngân hàng số tiền nêu trên là thực tế có xảy ra. Do bà C chưa thanh toán nên cần buộc bà C thanh toán cho Ngân hàng theo yêu cầu của Ngân hàng.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc bà C thanh toán cho Ngân hàng số tiền nêu trên và khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong nợ gốc là phù hợp.
[3] Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định pháp luật. Cụ thể, bà C phải chịu án phí số tiền 7.123.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 92, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V.
Buộc bà Nguyễn Thị C thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền 142.455.313 đồng (Một trăm bốn mươi hai triệu bốn trăm năm mươi lăm nghìn ba trăm mười ba đồng) và khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ LN2401021422207 ngày 02/01/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc.
-
Án phí:
Bà Nguyễn Thị C phải chịu án phí số tiền 7.123.000 đồng (Bảy triệu một trăm hai mươi ba nghìn đồng).
Ngân hàng thương mại cổ phần V không phải chịu án phí. Ngày 30/9/2025 Ngân hàng thương mại cổ phần V đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 2.910.000 đồng (Hai triệu chín trăm mười nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000627 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được nhận lại.
-
Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 22/12/2025, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản
nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của tổ chức tín dụng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho tổ chức tín dụng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của tổ chức tín dụng cho vay.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V và bị đơn bà Nguyễn Thị C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Lê Thị Hồng Hà |
Bản án số 411/2025/DS-ST ngày 22/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 411/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP V yêu cầu bà Nguyễn Thị C thanh toán nợ tín dụng
