Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 411/2024/HS-PT

Ngày: 29-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Thanh Bình

Các thẩm phán: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh

Ông Nguyễn Công Sự

Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trìu A Sám – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26 đến ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 300/2024/TLPT-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc H do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc H đối với bản án hình sự sơ thẩm số 136/2024/HS-ST ngày 11/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1996 tại Đồng Nai; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: Ấp T, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện tại: Ấp T, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1968 và Lê Thị Ngọc Y, sinh năm 1968; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Hoàng Phương T, sinh năm 1999 và có 02 con lớn nhất sinh năm 2001 và nhỏ nhất sinh năm 2024.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 28/3/2024. Hiện đang giam tại Trại giam B, Công an tỉnh Đ.

* Người bào chữa cho bị cáo H theo yêu cầu: Luật sư Châu Văn V, Luật sư Trần Minh H2, Luật sư Lê Văn T1.

Địa chỉ: Văn phòng L, Đoàn Luật sư Thành phố H, số D, N, phường A, quận F, thành phố Hồ Chí Minh.

(Tại phiên tòa có mặt bị cáo H, luật sư H2, Luật sư V, vắng mặt luật sư T1. Bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt luật sư T1. Trong vụ án có bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Mạnh T2 không có kháng cáo nên không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 22 giờ ngày 02/01/2024, Nguyễn Ngọc H, Nguyễn Mạnh T2 đến nhà Nguyễn Văn P tại tổ C, ấp T, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai cùng rủ nhau sử dụng ma túy. Huynh nhìn thấy có bộ dụng cụ sử dụng ma túy nhưng chưa có ma túy nên H đã liên lạc với người tên H3 (chưa rõ nhân thân lai lịch) để đặt mua 01 tép ma túy đá (loại Methamphetamine) với giá 200.000 đồng, sau khi thỏa thuận xong thì khoảng 30 phút sau H3 đến nhà của P giao ma túy, H đưa cho P 200.000 đồng ra đưa cho H3 và nhận ma túy. P nhận ma túy xong rồi cầm vào nhà đưa cho T2. T2 dùng kéo cắt ma tuý, sau đó đổ vào nỏ thủy tinh, dùng lửa nấu ma tuý lên, rồi lần lượt P, H, T2 cùng nhau sử dụng ma tuý, phần ma túy còn lại để bên cạnh bộ dụng cụ, dự định sẽ đổ ra để sử dụng tiếp. Khi P, H, T2 đang sử dụng ma túy thì Công an xã V kiểm tra phát hiện bắt giữ P và T2. Riêng H chạy thoát.

Đến ngày 28/3/2024, Nguyễn Ngọc H đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N đầu thú.

Vật chứng thu giữ, tài sản thu giữ gồm:

  • - 01 gói niêm phong mẫu vật.
  • - 01 nỏ thuỷ tinh; 01 hộp quẹt gas; 01 cây kéo.

Căn cứ Kết luận giám định số 24/KL-KTHS ngày 10 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

  • + Mẫu tinh thể màu trắng bám dính trong 01 (một) nỏ thủy tinh là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.
  • + Mẫu tinh thể màu trắng trong 01 (một) đoạn ống hút nhựa được hàn kín hai đầu là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,1070 gam. (Bút lục 38).

Tại bản án sơ thẩm số 136/2024/HS-ST ngày 11/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch đã tuyên:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H, Nguyễn Mạnh T2, Nguyễn Văn P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 09 (C) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo là ngày 28/03/2024.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo khác, việc xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 18/6/2024, bị cáo Nguyễn Ngọc H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có cung cấp Quyết định cho quân nhân xuất ngũ, Giấy khen tặng danh hiệu Chiến sĩ tiên tiến, Đơn xin xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn được UBND xã V xác nhận ngày 11/6/2024 cho tòa án. Bị cáo H đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo hưởng án treo.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: Các bị cáo trong vụ án cùng nhau sử dụng ma túy, không phân công rõ ràng nên cấu thành tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy không rõ ràng. Mặt khác, bị cáo học lớp 9/12 nên hạn chế nhận thức, bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo đầu thú, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan điều tra khi khai báo để nhanh chóng giải quyết vụ án, có tham gia bộ đội được tặng giấy khen (có thành tích xuất sắc trong công tác), có hai con còn nhỏ nên đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật. Bị cáo có hành vi cung cấp ma túy và rủ rê hai người cùng sử dụng đã cấu thành điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS. Luật sư cho rằng bị cáo ra đầu thú và nuôi con nhỏ; phạm tội lần đầu nhưng không thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên không thể áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS; Luật sư đề nghị áp dụng điểm p, v khoản 1 Điều 51 BLHS là không có căn cứ. Mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng sơ thẩm và phúc thẩm đều thực hiện đầy đủ, trình tự thủ tục theo quy định pháp luật. Kháng cáo của bị cáo H trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Ngọc H thừa nhận hành vi phạm tội như mô tả tại bản án sơ thẩm; bị cáo xác định không bị oan sai, đồng thời trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử ở cấp sơ thẩm bị cáo không bị ép cung hoặc dùng nhục hình, lời khai của bị cáo hoàn toàn chính xác và tự nguyện. Do đó, bản án sơ thẩm là đúng người, đúng tội.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp các tài liệu chứng minh bị cáo có con còn nhỏ, có hoàn cảnh khó khăn, có thời gian đi nghĩa vụ quân sự được tặng giấy khen là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Căn cứ vào diễn biến vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo H, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là nghiêm khắc nên có căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm cho bị cáo 01 năm tù là phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị y án sơ thẩm không phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận; quan điểm của người bào chữa tại phiên tòa về phần xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận, còn các nội dung bào chữa khác không phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của HĐXX nên không chấp nhận.

[5] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc H, sửa Bản án số 136/2024/HS-ST ngày 11/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
  2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1và khoản 2, Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo là ngày 28/03/2024.

  3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

    Bị cáo Nguyễn Ngọc H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Phòng PV06 - CA tỉnh Đồng Nai;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện;
  • - TAND huyện (2);
  • - VKSND huyện;
  • - Công an huyện;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS (5).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(đã ký tên và đóng dấu)

Thái Thị Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 411/2024/HS-PT ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự (phúc thẩm)

  • Số bản án: 411/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc H phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger