|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 411/2024/HS-PT Ngày 29 tháng 5 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Trinh
Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thanh Duyên
Bà Phạm Thị Duyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Tâm - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vi Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 55/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn R và bị cáo Nguyễn Hữu Thiện T; Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn R, bị cáo Nguyễn Hữu Thiện T và kháng cáo của bị hại là Công ty TNHH A (USA) đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 572/2023/HS-ST ngày 07 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 396/2024/QĐXXPT-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, đối với:
- Các bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:
- Nguyễn Văn R (K); Sinh ngày 26 tháng 02 năm 1965 tại tỉnh Bình Dương; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: A141 khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH R2 và Công ty TNHH V2; Con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ (đã chết); Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không; Tạm giam từ ngày 16/3/2022, (có mặt)
- Nguyễn Hữu Thiện T; Sinh ngày 13 tháng 11 năm 1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: 260/1/7 Bà H, Phường 1, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH A1; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Trọng K1 và bà Nguyễn Sô P, sinh năm 1955; Không có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giam từ ngày 15/3/2022, (có mặt).
- Bị hại: Công ty TNHH A (USA)
Người đại diện theo pháp luật: ông Michael R1 - Giám đốc
Địa chỉ: G Hammond D, Atlanta, GA, 30328, Hoa Kỳ
Người đại diện theo ủy quyền của ông Michael R1: Ông Lê Bá T2; Địa chỉ: chung cư L, Đường A, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn R: Luật sư Lê Quốc V thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu Thiện T:
- Luật sư Trần Minh H – Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
- Luật sư Đỗ Hải B thuộc Đoàn luật Thành phố H, (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH R2 (viết tắt là Công ty R2) trụ sở chính tại địa chỉ ấp M, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; Chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ: số C Đường D phường B, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngành nghề đăng ký kinh doanh: sản xuất thiết bị sử dụng năng lượng thiết bị chiết lưu, pin mặt trời...
Ngày 05/8/2020, Công ty R2 do Nguyễn Văn R làm giám đốc, đại diện bên bán (Bên A) và Công ty TNHH A (viết tắt là Công ty A2), Hoa Kỳ, do ông Michael R1 làm giám đốc, đại diện bên mua (Bên B), ký kết hợp đồng mua bán (P) số 01/2020/CONTRACT-RH&ATLAS (ký kết online gửi qua email). Theo đó, Công ty R2 bán cho Công ty A2 lô hàng găng tay y tế hiệu Vglove Nitrile không bột, của nhà sản xuất V2, hàng mới 100%, đạt chuẩn quốc tế, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu đi C và Mỹ; số lượng: 4500 thùng (10 hộp/thùng, 01 hộp/100 cái); đơn giá: 71 USD/thùng; tổng giá trị hợp đồng là 319.500 USD; phương thức thanh toán qua tài khoản số 13168907 (USD) của Công ty R2 mở tại Ngân hàng TMCP Á - PGD C - Chi nhánh Đ1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo hợp đồng, Bên A sẽ giao hàng cho bên B số lượng 1000 thùng trong vòng 48 giờ bằng đường hàng không kể từ khi bên B thanh toán tiền đặt cọc 30% (tương đương 95.850 USD) cho bên A, còn lại 3.500 thùng (tương đương 223.650 USD) sẽ giao tại Cảng C, Thành phố Hồ Chí Minh sau thời gian 10 ngày, thanh toán bằng TT hoặc LC trong vòng 36 giờ từ khi bên A xuất hóa đơn giao hàng cho bên B. Bên A cung cấp cho bên B các chứng từ tài liệu như: Kết quả kiểm tra chất lượng, chứng chỉ ISO, CE, FDA 510K, phân loại thiết bị, chứng nhận lưu hành của Bộ Y, chứng chỉ pháp lý liên quan khác và cam kết chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của hồ sơ pháp lý của lô hàng găng tay Vglove-VRG Khải Hoàn.
Sau khi ký kết hợp đồng, ông Michael R1 yêu cầu Nguyễn Văn R phải có văn bản cam kết 3 bên giữa Công ty R2 - Công ty A2 và Nhà sản xuất V2.
Ngày 11/8/2020, Nguyễn Văn R chỉ đạo Nguyễn Hữu Thiện T soạn thảo giả mạo hợp đồng nguyên tắc thỏa thuận 3 bên (PRINCIPPAL AGREEMENT), gồm: Công ty cổ phần V2 (Bên A) - Công ty R2 (Bên B)- Công ty A2 (Bên C), có các nội dung như sau: Tên sản phẩm: găng tay y tế không bột Nitrile, thương hiệu V3; Trong vòng 02 ngày, bên C có trách nhiệm thanh toán cho bên A 30% giá trị Hợp đồng nguyên tắc số 253/KH-RH-2020 kể từ khi Hợp đồng mua bán số 01/2020/Contract-R-Atlas có hiệu lực, chuyển tiền vào tài khoản bên A, số 19036169185021 (USD) mở tại Ngân hàng T9, mã Swift: VTCBVNVX.
Ngoài ra, Nguyễn Văn R lập giả tờ Thông báo số: 134743 ngày 10/8/2020 của T9, Chi nhánh T10, nội dung: xác nhận tài khoản số 19036169185021 (USD) mã chuyển tiền (S): VTCBVNVX của Công ty cổ phần V2, R chỉ đạo cho Nguyễn Hữu T3 T gửi chứng từ tài liệu qua emai cho ông Michael R1 và yêu cầu đối tác chuyển tiền thanh toán.
Thực tế, số tài khoản 19036169185021 (USD) ghi trong Thông báo số: 134743 chính là tài khoản của Công ty TNHH V2 do Nguyễn Văn R là Giám đốc và Nguyễn Hữu T3 T là Kế toán cùng đứng tên tài khoản mở tại Ngân hàng T9, Chi nhánh Đ1, không phải số tài khoản của Công ty Cổ phần V2, tỉnh Bình Dương.
Từ các chứng từ, tài liệu do Nguyễn Văn R và Nguyễn Hữu T3 T chuyển qua email, tin tưởng R có hàng găng tay của Công ty Cổ phần V2 nên ngày 11/8/2020 và ngày 24/8/2020, ông Michael R1 đã chuyển vào tài khoản số 19036169185021 (USD) tổng số tiền 333.000 USD tương đương 7.752.240.000 đồng.
Sau khi nhận được số tiền 333.000 USD, Nguyễn Văn R đi cùng Nguyễn Hữu T3 T ra Ngân hàng T9 PGD Nguyễn Duy T4 làm thủ tục rút tiền để sử dụng cá nhân, không thực hiện giao hàng cho Công ty A2 như đã cam kết.
Ngày 07/12/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thành phố H tiếp nhận đơn tố giác về tội phạm của Luật sư Nguyễn Ngọc T5 là đại diện theo ủy quyền của ông Michael R1 giám đốc Công ty TNHH A (USA), tố cáo Nguyễn Văn R, Giám đốc Công ty TNHH R2 lừa đảo chiếm đoạt 6.297.066.000 đồng, thông qua việc ký kết hợp đồng mua bán găng tay y tế hiệu Vglove của Công ty Cổ phần V2.
Ngày 02/4/2021, vì lý do cá nhân Luật sư T6 đã thông báo không tiếp tục làm người đại diện theo ủy quyền của ông Michael R1. Ngày 28/02/2022, ông Michael R1 tiếp tục ủy quyền cho Luật sư Lê Bá T2 tham gia tố tụng của vụ án.
Kết quả điều tra xác định:
- Xác minh tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H và tỉnh Tiền Giang: Nguyễn Văn R (tên gọi khác là K) sinh năm 1965, Chứng minh nhân dân số [...] cấp ngày 08/11/2017, tại Công an tỉnh B, nơi đăng ký thường trú: A141 khu phố B, phường B, Thành phố T, tỉnh Bình Dương; thành lập 02 doanh nghiệp, làm giám đốc, đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH R2 (thông tin như đã nêu ở trên) và Công ty TNHH V2 (viết tắt là Công ty V2), mã số thuế: 0316431933, đăng ký lần đầu ngày 10/8/2020, tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H, trụ sở đặt tại địa chỉ: D đường số B, phường B, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngành nghề đăng ký kinh doanh: Buôn bán nông hải sản, thực phẩm, sản xuất sản phẩm cao su, vận tải hàng hóa.
- Xác minh tại Ngân hàng T9, Chi nhánh Đ1: tài khoản số 19036169185021 (USD) và tài khoản số 19036169185013 (VND) của Công ty TNHH V2 do Nguyễn Văn R làm giám đốc, đại diện theo pháp luật và Nguyễn Hữu Thiện T (phụ trách kế toán) cùng đứng tên đăng ký mở tài khoản; Nguyễn Hữu T3 T và Nguyễn Văn R có quyền sử dụng các giao dịch đối với tài khoản trên.
Theo bảng sao kê tài khoản số 19036169185021 (USD) của Công ty V2 thể hiện: ngày 11/8/2020 và ngày 24/8/2020, Công ty A (USA) đã chuyển tổng số tiền 333.000USD vào tài khoản 19036169185021 (USD).
Xác minh tại Ngân hàng T9, Phòng G, giao dịch tài khoản 19036169185021 (USD) và tài khoản số 19036169185013 (VND) của Công ty TNHH V2 mở tại Ngân hàng T9, Chi nhánh Đ1:
Ngày 19/8/2020, Nguyễn Văn R ký hợp đồng mua bán bán số ngoại tệ 99.840USD theo tỷ giá 23.088 đồng/USD tương đương số tiền 2.305.105.920 đồng, R đã thực hiện chuyển số tiền 2.305.105.920 đồng vào tài khoản 19036169185013 (VND) cho Ngân hàng T9, Phòng G; Nguyễn Văn R cùng Nguyễn Hữu T3 T ký ủy nhiệm chi chuyển số tiền 2.304.000.000 đồng từ tài khoản số 19036169185013 (VND) của Công ty V2 đến tài khoản của Công ty R2, số 13168897 mở tại Ngân hàng ACB Thành phố H.
Ngày 26/8/2020, Nguyễn Văn R ký hợp đồng bán số ngoại tệ 233.000 USD từ tài khoản 19036169185021 (USD) theo tỷ giá 23.088 VND/USD tương đương 5.379.504.000 đồng cho Ngân hàng T9, Phòng G; Nguyễn Văn R nhận tiền mặt số tiền 5.379.504.000 đồng theo Phiếu chi ngày 26/8/2020.
- Xác minh tại Ngân hàng T9, Chi nhánh T10: Ngân hàng T9, Chi nhánh T10 không phát hành tờ Thông báo số 134743 ngày 10/8/2020 về việc xác nhận số tài khoản ngân hàng, ghi tên khách hàng là Công ty Cổ phần V2, địa chỉ: Thửa đất số 233, tờ bản đồ số 37, Ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương Việt Nam; Tài khoản V2 Joint Stock: 19036169185021 (USD), S: VTCBVNVX.
- Xác minh tại Ngân hàng A3: số tài khoản 2018587 do Nguyễn Văn R đứng tên chủ tài khoản, các giao dịch chuyển tiền từ Công ty R2 chuyển đến, tổng cộng từ ngày 14/8/2020 đến ngày 16/11/2020 tài khoản 2018587 phát sinh giao dịch từ Công ty R2 chuyển tiền vào tài khoản cá nhân số 2018587 của Nguyễn Văn R số tiền là 11.898.970.000 đồng.
- Xác minh tại Ngân hàng S1: Số tài khoản 060239633962 của Vòng Kỷ X mở vào ngày 27/12/2019 nhưng đến ngày 05/9/2020 mới phát sinh giao dịch, thể hiện: trong ngày 19/10/2020, Nguyễn Văn R (A K2) chuyển số tiền 50.000.000 đồng, Vòng Kỷ X chuyển trả Nguyễn Văn K3 số tiền 2.000.000.000 đồng.
- Xác minh tại Ngân hàng S1 chi nhánh B1: Số tài khoản 050076547431 của Vòng Kỷ X, theo sao kê tài khoản thể hiện tổng số tiền Nguyễn Văn R thực tế chuyển vào tài khoản 050076547431 của Vòng Kỷ xềnh là 8.353.005.000 đồng, trong đó chỉ có 01 giao dịch ghi nội dung Công ty R2 đặt cọc tiền mua 4.500 thùng găng tay Khải Hoàn, với số tiền 900.000.000 đồng. Các giao dịch còn lại có tổng số tiền: 7.453.005.000 đồng, chỉ ghi nội dung “Anh R cho mượn” và “Anh R chuyển”; hoàn toàn không có thông tin Vòng Kỷ X đặt cọc mua hàng găng tay hoặc thanh toán tiền mua hàng cho cá nhân, tổ chức nào khác.
- Xác minh tại Công an xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai: Từ tháng 01/2021 đương sự Vòng Kỷ X đã không có mặt ở địa phương, đi làm gì ở đâu gia đình không rõ, sau khi nhận giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, gia đình liên hệ với Vòng Kỷ X để giao giấy triệu tập nhưng không liên lạc được. Do đó chưa thể làm việc ghi lời khai Vòng Kỷ X.
- Xác minh tại Công ty Cổ phần V2: Từ trước đến nay Công ty cổ phần V2 không giao dịch ký kết hợp đồng hoặc thỏa thuận mua bán gì với Công ty TNHH R2 và Công ty TNHH V2 do Nguyễn Văn R làm giám đốc, đại diện theo pháp luật; không giao dịch ký kết hợp đồng, thỏa thuận mua bán hàng hóa với Công ty TNHH A (USA) do ông Michael R1 làm giám đốc; số tài khoản 19036169185021 (USD) nhận 333.000 USD không phải là tài khoản của Công ty Cổ phần V2; Hợp đồng sản xuất găng tay số 253/KH-RH-2020 và Hợp đồng nguyên tắc (Principal Agreement) ký giữa Công ty TNHH R2, Công ty TNHH A và Công ty Cổ phần V2 là giả mạo. Từ trước đến nay, Nguyễn Văn R, Giám đốc Công ty R2 và Công ty V2 cùng các cá nhân Nguyễn Hữu Thiện T, Vòng Kỷ X, Đoàn Thảo V1 và Lê Đình T7 không có giao dịch ký kết hợp đồng về việc mua bán mặt hàng găng tay y tế thuơng hiệu Vglove Nitrile của Công ty Cổ phần V2, các cá nhân trên không phải là nhân viên của Công ty Cổ phần V2.
- Xác minh tại Phòng C, Công an Thành phố H (PC02): Ngày 11/01/2021, PC02 tiếp nhận đơn của Nguyễn Văn R tố cáo Vòng Kỷ X về hành vi chiếm đoạt tài sản với số tiền 5.923.005.000 đồng, thông qua việc mua bán găng tay y tế (đính kèm theo đơn có 07 giấy ủy nhiệm chi). Nội dung các chứng từ thể hiện giao dịch chuyển tiền từ tài khoản số 2018587 của Nguyễn Văn R đến tài khoản số [...] và số [...] của Vòng Kỷ X với tổng số tiền 7.523.005.000 đồng.
Theo hồ sơ vụ việc do Phòng C giải quyết thể hiện: ngoài 07 giấy ủy nhiệm chi do Nguyễn Văn R cung cấp, ghi nội dung “anh R chuyển”, “anh R cho mượn”, ngoài ra không có chứng từ, tài liệu nào khác thể hiện có việc giao dịch mua bán mặt hàng găng tay y tế. Nguyễn Văn R khai số tiền bị Vòng K4 Xềnh chiếm đoạt theo nội dung đơn tố cáo không phù hợp với chứng từ chuyển tiền và số tiền Vòng Kỷ X chuyển lại cho Nguyễn Văn R.
Ngày 24/6/2021, Phòng C - Công an Thành phố H ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin với lý do đã hết thời hạn giải quyết nguồn tin nhưng chưa có kết quả giám định chiếc điện thoại di động của Vòng Kỷ X.
Kết quả trưng cầu giám định:
Ngày 27/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Thành phố H ra Quyết định số 372-04/QĐ-CSKT-Đ9 trưng cầu Phòng C Công an Thành phố H, tiến hành giám định chữ ký của Nguyễn Văn R và Nguyễn Hữu T3 T trên hồ sơ đăng ký mở tài khoản cho Công ty TNHH V2 tại Ngân hàng T9 Chi nhánh Đ1; Phiếu chi tiền 5.379.504.000 đồng người lĩnh tiền Nguyễn Văn R; Hợp đồng mua bán ngoại tệ giao ngay số FX.20200826CLI000001.01 ngày 26/8/2020 và Hợp đồng mua bán ngoại tệ giao ngay số FX.20200819 CLI000001.01 ngày 19/8/2020.
Kết quả giám định, xác định: Chữ ký mang tên Nguyễn Văn R trên các tài liệu mẫu cần giám định so với chữ ký Nguyễn Văn R mẫu so sánh là do cùng một người ký ra. Chữ ký Nguyễn Hữu Thiện T trên các tài liệu mẫu cần giám định so với chữ ký Nguyễn Hữu T3 Tâm mẫu so sánh là do cùng một người ký ra.
Ngày 07/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Thành phố H ra Quyết định số 372-04B/QĐ-CSKT-Đ9 trưng cầu Phòng C - Công an Thành phố H, tiến hành giám định chữ ký của Nguyễn Văn R và Nguyễn Hữu T3 Tâm trên chứng từ ủy nhiệm chi số bút toán FT20232725348054 ngày 19/8/2020, tên tài khoản Công ty TNHH V2, số tài khoản 19036169185013 (VND), số tiền: 2.304.000.000 đồng.
Kết quả giám định, xác định: Chữ ký mang tên Nguyễn Văn R trên tài liệu mẫu cần giám định so với chữ ký Nguyễn Văn R trên tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký ra. Chữ ký Nguyễn Hữu T3 Tâm trên tài liệu mẫu cần giám định so với chữ ký Nguyễn Hữu Thiện T trên tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký ra.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 572/2023/HS-ST ngày 07 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn R 14 (mười bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/3/2022.
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Thiện T 14 (mười bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2022.
- Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Buộc bị cáo Nguyễn Văn R phải bồi thường cho công ty TNHH A (U) số tiền 6.297.066.000 (Sáu tỷ hai trăm chín mươi bảy triệu không trăm sáu mươi sáu ngàn) đồng.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về lãi suất chậm thi hành án, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 08/12/2023, bị cáo Nguyễn Văn R có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 08/12/2023, bị cáo Nguyễn Hữu T3 T có đơn kháng cáo cho rằng mức án chưa đúng tính chất vụ án, oan sai và quá nặng so với hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét và xử lại vụ án.
Ngày 21/12/2023, người đại diện theo ủy quyền của bị hại là ông Lê Bá T2 có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm buộc bị cáo Nguyễn Văn R và bị cáo Nguyễn Hữu T3 T phải liên đới bồi thường cho Công ty TNHH A (U) số tiền 6.297.066.000 (Sáu tỷ hai trăm chín mươi bảy triệu không trăm sáu mươi sáu ngàn) đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn R, tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo R trình bày bị cáo có tiết tiết giảm nhẹ là gia đình có công với cách mạng, bị cáo đang bị nhiễm HIV; Tuy nhiên các tình tiết này đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo; Mặt khác số tiền bị cáo chiếm đoạt rất lớn; bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo R.
Đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu Thiện T, tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội với vai trò giúp sức cho bị cáo R và bị cáo không có hưởng lợi đối với số tiền bị hại chuyển cho bị cáo R; Đồng thời bị cáo T đã có hành vi ngăn chặn thiệt hại trong vụ án; tình tiết này chưa được cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo T, giảm cho bị cáo T từ 01-02 năm tù.
Đối với kháng cáo của bị hại đề nghị tuyên buộc bị cáo T liên đới bồi thường số tiền bị cáo R đã chiếm đoạt; xét trong vụ án này số tiền bị hại chuyển cho bị cáo R, do bị cáo R chiếm đoạt toàn bộ nên án sơ thẩm buộc bị cáo R có trách nhiệm bồi thường cho bị hại là phù hợp, việc bị hại buộc bị cáo T cùng liên đới là không có căn cứ. Do đó, không có sơ sở chấp nhận kháng cáo của bị hại.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn R trình bày: Ngày bắt bị cáo R, bị cáo không có mặt ở nơi cư trú, bị cáo ở Tiền Giang, bị cáo đã tự thú; Bị cáo Rỡ lớn tuổi và đang bị rất nhiều bệnh (bị nhiễm HIV, đái tháo đường, huyết áp); Ngoài ra gia đình bị cáo R có công với cách mạng, Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo R, giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
- Luật sư Trần Minh H bào chữa cho bị cáo T trình bày: Tại cấp phúc thẩm bị cáo cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Trong quá trình tạm giam chờ xét xử phúc thẩm bị cáo T bị chấn thương rất nặng phải đưa đi bệnh viện để điều trị; Bị cáo chỉ tham gia với vai trò đồng phạm; Bị cáo không có mục đích chiếm đoạt tài sản. Do đó, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.
- Luật sư Đỗ Hải B bào chữa cho bị cáo T trình bày: Bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 và áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: Bị cáo T là người tạo điều kiện, giúp sức cho bị cáo R chiếm đoạt tiền của bị hại nên bị cáo T phải có trách nhiệm liên đới với bị cáo R để bồi thường thiệt hại cho bị hại với số tiền 6.297.066.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn R, Nguyễn Hữu T3 T và đại diện của bị hại làm trong hạn luật định và hợp lệ nên nên được xem xét tại cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn R đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, các kết luận giám định, lời khai của những người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có cơ sở xác định:
Công ty R2 có ngành nghề đăng ký kinh doanh là sản xuất thiết bị sử dụng năng lượng thiết bị chiết lưu, pin mặt trời... Công ty TNHH V2 (viết tắt là Công ty V2), có ngành nghề kinh doanh là buôn bán nông hải sản, thực phẩm, sản xuất sản phẩm cao su, vận tải hàng hóa; cả 02 Công ty này đều do Nguyễn Văn R làm giám đốc.
Ngày 05/8/2020, Công ty R2 do bị cáo R làm giám đốc và Công ty A2 do ông Michael R1 làm giám đốc đã ký hợp đồng mua bán số 01/2020/CONTRACT-RH&ATLAS (ký kết online gửi qua email). Theo đó, Công ty R2 bán cho Công ty A2 lô hàng găng tay y tế hiệu Vglove Nitrile không bột, của nhà sản xuất V2, hàng mới 100%, đạt chuẩn quốc tế, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu đi C và Mỹ; với số lượng 4500 thùng; tổng giá trị hợp đồng là 319.500 USD.
Sau khi ký kết hợp đồng, Công ty A2 yêu cầu bị cáo R phải có Văn bản cam kết giữa giữa 3 bên gồm Công ty R2, Công ty A2 và Nhà sản xuất V2. Biết rõ việc 02 Công ty do R làm giám đốc không có nguồn hàng găng tay y tế thương hiệu Vglove và không được Sở Y tế Thành phố H cấp phép chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh mặt hàng này nhưng muốn tạo sự tin tưởng cho Công ty A2 nhanh chóng thực hiện hợp đồng, chuyển tiền cho Nguyễn Văn R; N, Nguyễn Văn R đã chỉ đạo Nguyễn Hữu T3 T là kế toán trưởng của Công ty V2 soạn thảo, tạo lập các chứng từ rồi đưa cho bị cáo R ký tên, đóng dấu. Sau đó, bị cáo T đã chụp hình, scan gửi qua mail cho Công ty A2 gồm: Hợp đồng nguyên tắc thỏa thuận 3 bên gồm Công ty cổ phần V2 - Công ty R2 - Công ty A4; Hóa đơn bán hàng; Thông báo số 134743 ngày 10/8/2020 của Ngân hàng T9 Chi nhánh T10 về việc xác nhận số tài khoản Công ty Cổ phần V2; Hóa đơn bán hàng số VNRH 20/1407 ngày 08/8/2020 (Invove); Phiếu đóng gói ngày 08/8/2020 của Công ty R2; Invoice số 18452-18453 ngày 21/8/2020 của Công ty Cổ phần V2 với nội dung hướng dẫn thanh toán chuyển tiền vào tài khoản số 19036169185021 (USD) tại Ngân hàng T9; Thư xác nhận ngày 19/8/2020 về việc thông báo kiểm tra đơn hàng 4500 thùng găng tay y tế của Công ty Cổ phần V2; Thư xin lỗi về việc chậm trễ giao hàng ngày 28/8/2020 có ký tên đóng dấu Công ty Cổ phần V2.
Qua xác minh xác định: Nguyễn Hữu T3 T sử dụng email (nguyenhuuthientam@gmail.com) gửi qua email của ông Michael R1 (mrettig@atlasgrp.com 03 hợp đồng gồm: Hợp đồng mua bán số 01/2020/CONTRACT-RH&ATLAS; hợp đồng nguyên tắc về sản xuất găng tay số 253/KH-RH-2020; Hợp đồng nguyên tắc thỏa thuận 3 bên; Hợp đồng nguyên tắc thỏa thuận 3 bên; Chứng từ: Invoce; Packing list; Thông báo số 134743 về việc xác nhận số tài khoản Ngân hàng T9 Chi nhánh T10; T8 xác nhận và Invoice của Công ty Cổ phần V2 về thông tin đơn hàng, địa chỉ, số tài khoản; hướng dẫn thanh toán, vận chuyển FOB. Số tài khoản 19036169185021 (USD) ghi trong Thông báo số 134743 là tài khoản của Công ty TNHH V2 do bị cáo R là giám đốc và bị cáo T là Kế toán cùng đứng tên tài khoản mở tại Ngân hàng T9, Chi nhánh Đ1, không phải số tài khoản của Công ty Cổ phần V2 ở tỉnh Bình Dương. Đồng thời, bị cáo R xác nhận những nội dung ghi trong các chứng từ, tài liệu gửi cho ông Michael R1 đều là giả mạo, không đúng sự thật.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo T cũng thừa nhận bị cáo là người soạn thảo hợp đồng mua bán, hợp đồng nguyên tắc, thư xin lỗi nêu trên.
Qua đó cho thấy, bị cáo T nhận thức rất rõ hành vi gian dối của bị cáo R là không có hàng găng tay y tế để giao cho Công ty A4 như thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng bị cáo T vẫn đồng ý giúp sức, thực hiện theo sự chỉ đạo của bị cáo R là tạo lập các tài liệu giả mạo theo yêu cầu của R, đưa cho R ký tên trên các tài liệu này. Sau đó T đã chụp, scan và trực tiếp gửi các chứng từ qua email và sử dụng điện thoại liên lạc với ông Michael R1 để yêu cầu đối tác chuyển tiền thanh toán. Chính những tài liệu giả mạo được bị cáo T chuyển qua mail cho ông Michael R1 đã làm cho ông Michael R1 tin tưởng là thật nên mới đồng ý chuyển số tiền là 333.000 USD tương đương 7.752.240.000 đồng vào tài khoản số 19036169185021 (USD) của Công ty V2 do R làm giám đốc để chiếm đoạt tiền của ông Michael R1.
Với hành vi và hậu quả nêu trên, Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo Nguyễn Văn R và Nguyễn Hữu T3 T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.
Do đó, bị cáo T kháng cáo cho rằng bị cáo không phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị cáo bị oan là không có cơ sở chấp nhận.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, không những gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương mà còn gây mất lòng tin đối với các Doanh nghiệp nước ngoài khi ký kết mua bán hàng hóa với các doanh nghiệp Việt Nam cũng như gây ảnh hưởng đến môi trường đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Các bị cáo biết rõ trong tình hình dịch bệnh Covid 19 diễn biến phức tạp, nhu cầu sử dụng găng tay y tế nói riêng và các trang thiết bị y tế nói chung là cấp thiết nhưng vì lòng tham vẫn cố ý đưa ra thông tin gian dối để chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Do đó, cần phải xử các bị cáo mức án thật nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3.1] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn R:
Khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có mẹ là bà Nguyễn Thị Đ được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất trong kháng chiến chống Mỹ; ngoài ra bị cáo đang bị nhiễm HIV, tình trạng sức khỏe yếu theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo mức án 14 năm tù là tương xứng với tính chất hành vi phạm tội và hậu quả do bị cáo gây ra.
Tại cấp phúc thẩm bị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới, đồng thời như đã nêu trên, mức án Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo là tương xứng. Vậy nên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo R, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo R.
[3.2] Xét của bị cáo Nguyễn Hữu Thiện T:
Như đã phân tích tại mục [2], việc, Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo Nguyễn Hữu Thiện T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.
Về mức hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội nên không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã khai nhận toàn bộ các hành vi mà bị cáo đã thực hiện; tuy nhiên do nhận thức nên bị cáo cho rằng hành vi mà bị cáo thực hiện không phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” chứ không phải bị cáo không thành khẩn khai báo. Do đó, cần áp dụng tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo T.
Đồng thời trong vụ án này, bị cáo R là chủ mưu, bị cáo T chỉ thực hiện theo chỉ đạo của bị cáo R, bị cáo T không có hưởng lợi từ số tiền chiếm đoạt và bị cáo T đã tích cực giúp cơ quan điều tra làm rõ sự việc.
Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết bị cáo T thành khẩn khai báo và tuyên xử bị cáo T mức án 14 năm tù bằng với mức hình phạt của bị cáo R là quá nặng, không phân hóa trách nhiệm hình sự giữa chủ mưu và đồng phạm, không phù hợp với quy định của pháp luật.
Vậy nên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo T, sửa bản án sơ thẩm, giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
[4] Xét kháng cáo của bị hại:
Theo lời thừa nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn R, lời khai của bị cáo Nguyễn Hữu T3 T cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Số tiền 333.000USD tương đương 7.752.240.000 đồng do bị hại chuyển vào tài khoản của Nguyễn Văn R thì sau đó bị cáo R hoàn trả cho bị hại số tiền 1.455.174.000 đồng; còn lại số tiền 6.297.066.000 đồng bị cáo R chiếm đoạt, sử dụng cho cá nhân.
Xét thấy, bị cáo T thực hiện hành vi gian dối giúp sức để cho bị cáo R chiếm đoạt tài sản của bị hại là có thật nên bị cáo đã phải chịu xử lý về mặt trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo T không có hưởng lợi từ số tiền chiếm đoạt của bị hại. Theo đó, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm đề nghị tuyên buộc bị cáo Nguyễn Văn R có trách nhiệm bồi thường cho Công ty A2 số tiền 6.297.066.000 đồng mà không buộc bị cáo Nguyễn Hữu T3 T phải liên đới bồi thường cho bị hại là phù hợp với quy định của pháp luật. Nên, việc bị hại kháng cáo yêu cầu tuyên buộc bị cáo T liên đới cùng bị cáo R để bồi thường số tiền 6.297.066.000 đồng là không có cơ sở chấp nhận.
[5] Từ những phân tích và nhận định nêu trên; Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn R và bị hại; giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo R và bị hại; chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo T.
[6] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo R phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm theo Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; bị hại không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn R và không chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH A (USA); Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 572/2023/HS-ST ngày 07 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về hình phạt đối với bị cáo R và về trách nhiệm dân sự đối với bị hại.
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu Thiện T; Sửa một phần bản án sơ thẩm 572/2023/HS-ST ngày 07 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về hình phạt đối với bị cáo T.
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn R 14 (mười bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/3/2022.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Thiện T 10 (mười) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2022.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo theo quyết định giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.
- Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Buộc bị cáo Nguyễn Văn R phải bồi thường cho Công ty TNHH A (U) số tiền 6.297.066.000 (Sáu tỷ hai trăm chín mươi bảy triệu không trăm sáu mươi sáu nghìn) đồng.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành hoặc không thi hành đầy đủ các khoản đã tuyên thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền chậm thi hành.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn R phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Nguyễn Hữu Thiện T và Công ty TNHH A (USA) không phải chịu án phí phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tuyết Trinh |
Bản án số 411/2024/HS-PT ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 411/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo của bị cáo R, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo T, sửa một phần bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo T
