Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƠN TRẠCH

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 410/2023/HS-ST.

Ngày: 20-12-2023.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hường.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Điệp.

2. Ông Hoài Đức Huệ.

Thư ký phiên tòa: Bà Quân Thu Thảo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 295/2023/HSST ngày 13 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 451/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Trần Văn M. Giới tính: Nam.
Sinh ngày 20/01/1999. Tại Cà Mau.
Nơi cư trú: ấp C, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau.
Nghề nghiệp: Không.
Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1973; Bị cáo là con thứ 2 trong gia đình có 03 chị em. Bị cáo sống chung như vợ chồng với Lương Thị Chúc N, sinh năm 2007 và có 01 con chung sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/6/2023 và chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện N.

2. Đinh Văn D. Giới tính: Nam.
Sinh ngày 02/11/1997. Tại Đồng Tháp.
Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Nghề nghiệp: Không.
Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Văn T1, sinh năm 1978 và bà Phạm Thị Tuyết H, sinh năm 1975; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Bị cáo sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thị Huỳnh N1, sinh năm 2003 và chưa có con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/6/2023 và chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện N.

3. Hoàng Văn T2. Giới tính: Nam.
Sinh ngày 10/7/1993. Tại Hà Giang.
Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện B, Hà Giang.
Nghề nghiệp: Công nhân.
Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Đình N2 sinh năm 1957 và bà Hoàng Thị N3, sinh năm 1956; Bị cáo là con út trong gia đình có 08 anh em. Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị D1, sinh năm 1993 và có 01 con chung sinh năm 2014.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/6/2023 và chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện N.

(Các bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn M quen biết với Hoàng Văn T2. Ngày 05/6/2023, M cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy và cùng T2 tổ chức sử dụng ma túy tại phòng trọ của T2 ở ấp B, xã P.

Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 08/6/2023, M sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung gắn sim số 0886385844 liên lạc với số điện thoại 0345.666.xxx của C (không rõ lai lịch) mua 01 tép ma túy (đoạn ống hút nhựa hàn kín bên trong có chứa ma túy) với giá 200.000 đồng và được C cho 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy. Mộng nhờ Đinh Văn D chở đi lấy ma túy và chở đến phòng trọ của Hoàng Văn T2 ở ấp B, xã P để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. D biết M mua ma túy và tổ chức sử dụng ma túy nhưng vẫn đồng ý. Sau khi mua được ma túy, D chở M đến phòng trọ của T2. T2 mở cửa cho M, rồi nằm ngủ tiếp. Mộng lắp ráp 01 chai nhựa có gắn 01 nỏ thủy tinh (có sẵn trong phòng T2), 01 ống hút nhựa thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy, rồi đổ một phần ma túy đã mua vào trong nỏ, rồi hàn đoạn ống hút chứa phần ma túy còn lại giao cho D cất giấu. Mộng dùng bật lửa nấu ma túy lên và gọi T2 dậy cùng sử dụng ma túy. Trong lúc cả ba đang thay nhau hút ma túy thì Trần Nghĩa L (sinh ngày 23/12/1994, trú tại: ấp T, thị trấn C, huyện C, thành phố Cần Thơ; là bạn M) gọi điện thoại cho M, M nói cho L biết M đang ở phòng trọ của T2. Khoảng 05 phút sau L tới cùng sử dụng ma túy với M, D, T2. Tất cả cùng sử dụng ma túy đến 12 giờ 55 phút cùng ngày thì lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định số 1198/KL-KTHS ngày 14/6/2023 của Phòng Kl Công an tỉnh Đ kết luận:

  • - Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M) được niêm phong đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1131 gam, loại Methamphetamine.
  • - Mẫu tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M1) bám dính trong 01 nỏ thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết không xác định được khối lượng.
  • - H1 lại đối tượng giám định: toàn bộ đối tượng sau giám định. Không hoàn lại mẫu M1. Mẫu M1 đã sử dụng hết trong công tác giám định. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng M=0,0647 gam.

* Vật chứng vụ án:

  • - Tại phòng trọ: 01 nỏ thủy tinh bên trong có bám dính tinh thể rắn màu trắng (đã được niêm phong có chữ ký của Đinh Văn D, Hoàng Văn T2, Trần Văn M, Trần Nghĩa L và Phạm Hồng T3 và dấu tròn đỏ của công an xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai – ký hiệu M1) và 01 bật lửa (hộp quẹt gas) dùng hơ nóng ma túy.
  • - Trong túi quần trước bên phải của Đinh Văn D: 01 đoạn ống hút màu tím dài khoảng 1,5cm được hàn kín hai đầu, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng (đã được niêm phong có chữ ký của Đinh Văn D, Hoàng Văn T2, Trần Văn M, Trần Nghĩa L và Phạm Hồng T3 và dấu tròn đỏ của công an xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai – ký hiệu M).

- Thu giữ trên người:

  • + Trần Văn M 01 điện thoại di động hiệu SamSung A20 màu đen, D sử dụng vào việc phạm tội.
  • + Hoàng Văn T2 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh là tài sản cá nhân của T2 không liên quan đến việc phạm tội.
  • + Đinh Văn D 01 điện thoại di động hiệu NOKIA 1202 màu xanh là tài sản cá nhân của D không liên quan đến việc phạm tội.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda màu xanh biển kiểm soát 66B1-148.09 do Dư mượn của ông Đinh Văn T1. Ông T1 không biết D mượn xe đi mua bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho ông T1.

Trước Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội cùng các tình tiết, vật chứng, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập tại hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 285/CT-VKSNT ngày 06/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố bị cáo Trần Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 điều 255 Bộ luật hình sự; bị cáo Đinh Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 điều 255 Bộ luật hình sự; bị cáo Hoàng Văn T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc xem xét đối với các bị cáo với các tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Áp dụng Điều 38 và Điều 55 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn M mức án từ 01 năm 06 tháng tù giam đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù giam đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt chung là từ 09 năm đến 10 năm tù giam; xử phạt bị cáo Đinh Văn D mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù giam đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù giam đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt chung là từ 08 năm đến 09 năm tù giam và xử phạt bị cáo Hoàng Văn T2 mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù giam.

Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Toà tuyên:

  • - Tịch thu tiêu hủy:
  • + Toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định (có khối lượng: M=0,0647 gam; 01 nỏ thủy tinh, võ đoạn ống nhựa đã được niêm phong số 1198/KL-KTHS có chữ ký ghi tên Phạm Thị Hương M1 và dấu tròn màu đỏ Phòng K1 Công an tỉnh Đ) và 01 bật lửa (hộp quẹt gas).
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu SamSung A20 màu đen của Trần Văn M dùng vào việc phạm tội.
  • - Trả lại cho:
  • + Hoàng Văn T2 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh;
  • + Đinh Văn D 01 điện thoại di động hiệu NOKIA 1202 màu xanh.

Ngoài hành vi trên, Trần Văn M có hành vi giao cấu với Lương Thị Chúc N (sinh năm 2007) vào năm 2021, hành vi trên có dấu hiệu của tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã tách hành vi này ra tiếp tục củng cố chứng cứ, xử lý trong một vụ việc khác.

Đối với tên C (chưa rõ lai lịch) đã bán ma túy cho M, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh điều tra, làm rõ xử lý sau.

Đối với Trần Nghĩa L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng ma túy là phù hợp.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng; các bị cáo không tranh luận, bào chữa về hành vi của mình; các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận là những đối tượng nghiện ma tuý và nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang cùng các tình tiết, vật chứng, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập tại hồ sơ vụ án.

Bản thân các bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện và tội phạm đã hoàn thành. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo theo Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[2] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Xét hành vi của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội ở địa phương, gây thiệt hại đến sức khỏe, sự phát triển bình thường của con người do tác hại, mặt trái của ma túy mà các bị cáo đều nhận thức được.

Đây là vụ án đồng phạm, cụ thể như sau:

Vào ngày 05/6/2023, tại phòng trọ của Hoàng Văn T2 tại ấp B, xã P, huyện N, Trần Văn M và T2 đã 01 lần tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, trong đó: T2 là người cung cấp địa điểm, M là người cung cấp ma túy và dụng cụ sử dụng ma tuý.

Đến ngày 08/6/2023, cũng tại phòng trọ nêu trên, T2, M cùng Đinh Văn D tiếp tục thực hiện hành vi tổ chức sử dụng ma túy, trong đó:

  • + T2 thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với vai trò là người cho mượn địa điểm.
  • + Mộng thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với vai trò là người cung cấp (mua) ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy.
  • + D là người giúp sức chở M đi mua ma túy và chở M đến địa điểm sử dụng ma túy.

Ngoài ra, D và M còn có hành vi tàng trữ trái phép 0,1131 gam ma túy, loại Methamphetamine (do D chở M mua và đã sử dụng một phần như đã nêu trên, phần còn lại M đưa cho D cất giấu).

Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của mỗi bị cáo nêu trên mới có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải trong quá trình điều tra và tại phiên tòa theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy, các bị cáo đều là các đối tượng từng sử dụng trái phép chất ma túy nên có nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật không tốt.

Xét về tính chất, mức độ đối với hành vi phạm tội và vai trò đồng phạm của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Cả 03 bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy và có mối quan hệ bạn bè biết nhau nên ý chí chủ quan của các bị cáo là muốn cùng nhau sử dụng ma túy, nên khả năng của ai có đến đâu thì cùng hùn góp, tạo điều kiện cho nhau và tích cực cùng thực hiện.

Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để các bị cáo nhận thức, cải tạo, giáo dục trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội, bên cạnh sự răn đe và phòng ngừa chung của chính sách pháp luật hình sự và sự khoan hồng của Nhà nước.

[3] Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng vụ án:

Căn cứ các điều 46, 47 và Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

  • - Tịch thu tiêu hủy:
  • + Toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định (có khối lượng: M=0,0647 gam; 01 nỏ thủy tinh, võ đoạn ống nhựa đã được niêm phong số 1198/KL-KTHS có chữ ký ghi tên Phạm Thị Hương M1 và dấu tròn màu đỏ Phòng K1 Công an tỉnh Đ) và 01 bật lửa (hộp quẹt gas).
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu SamSung A20 màu đen của Trần Văn M dùng vào việc phạm tội.
  • - Trả lại cho:
  • + Hoàng Văn T2 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh;
  • + Đinh Văn D 01 điện thoại di động hiệu NOKIA 1202 màu xanh.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/11/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện N và Cơ quan Thi hành án dân sự huyện N).

[4] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Vấn đề khác:

Ngoài ra, Trần Văn M có hành vi giao cấu với Lương Thị Chúc N (sinh năm 2007) vào năm 2021, hành vi trên có dấu hiệu của tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã tách hành vi này ra tiếp tục củng cố chứng cứ, xử lý trong một vụ việc khác.

Đối với tên C (chưa rõ lai lịch) đã bán ma túy cho M, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh điều tra, làm rõ xử lý sau.

Đối với Trần Nghĩa L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng ma túy là phù hợp.

[6] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều hợp pháp, đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • * Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 58, 55 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

  • Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  • Xử phạt bị cáo Trần Văn M 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 08/6/2023.

  • * Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 58, 55 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

  • Tuyên bố bị cáo Đinh Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  • Xử phạt bị cáo Đinh Văn D 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 08/6/2023.

  • * Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

  • Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".

  • Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T2 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 08/6/2023.

Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng vụ án:

Căn cứ các điều 46, 47 và Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

  • - Tịch thu tiêu hủy:
  • + Toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định (có khối lượng: M=0,0647 gam; 01 nỏ thủy tinh, võ đoạn ống nhựa đã được niêm phong số 1198/KL-KTHS có chữ ký ghi tên Phạm Thị Hương M1 và dấu tròn màu đỏ Phòng K1 Công an tỉnh Đ) và 01 bật lửa (hộp quẹt gas).
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu SamSung A20 màu đen của Trần Văn M dùng vào việc phạm tội.
  • - Trả lại cho:
  • + Hoàng Văn T2 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh;
  • + Đinh Văn D 01 điện thoại di động hiệu NOKIA 1202 màu xanh.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/11/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện N và Cơ quan Thi hành án dân sự huyện N).

Về án phí:

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Trần Văn M, Đinh Văn D, Hoàng Văn T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND H. Nhơn Trạch;
  • - Công an H. Nhơn Trạch;
  • - Chi cục THADS H. Nhơn Trạch;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 410/2023/HS-ST ngày 20/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 410/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRẦN VĂN M và đồng phạm tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger