|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 410/2024/HNGĐ-ST Ngày: 20-8-2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hà Thiên Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đinh Hoàng Việt
- Ông Lưu Đức Quang
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh Thư - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Lê Ngọc Thanh Trúc - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 658/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 372/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 150/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Châu Thị Ngọc L, sinh năm: 1983
Địa chỉ: I đường L, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Hà Vĩnh D, sinh năm: 1983
Địa chỉ: Số D đường N, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 29/3/2023, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nguyên đơn bà Châu Thị Ngọc L trình bày: Bà và ông Hà Vĩnh D tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn từ năm 2010 tại Ủy ban nhân dân Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 91, quyển số 01/2010, cấp ngày 03/6/2010.
Quá trình chung sống, bà L và ông D phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do khác biệt quan điểm sống, ông D có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, không quan tâm, chăm sóc gia đình. Bà L cũng đã cố gắng để hàn gắn tình cảm nhưng không thành, bà và ông D đã ly thân từ tháng 12/2021 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Bà L khai, giữa bà và ông D chung sống có một người con chung tên Hà Kiền L1, sinh ngày 22/01/2013. Bà L yêu cầu nuôi con chung, bà L không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà L khai không có.
Về nợ chung: Bà L khai không có.
Ngày 23/5/2024, bà L có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.
Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng khác cho ông D nhưng ông D vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu quan điểm về việc tuân thủ pháp luật về tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử từ giai đoạn thụ lý đến khi nghị án là tuân thủ đúng quy định pháp luật, đầy đủ.
Về nội dung: Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định quan hệ tranh chấp giữa bà L và ông D là “Tranh chấp về ly hôn”. Bị đơn ông Hà Vĩnh D có địa chỉ cư trú tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử xét xử căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà L
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông D.
[2]. Về yêu cầu của nguyên đơn:
- Xét yêu cầu xin ly hôn:
Luật Hôn nhân và gia đình quy định: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc của gia đình. Tuy nhiên, giữa bà L và ông D không có sự tôn trọng, yêu thương, quan tâm, chăm sóc, không có sự giúp đỡ nhau. Ông D còn có mối quan hệ với người phụ nữ khác và bà L, ông D cũng đã sống ly thân, như vậy, cho thấy mục đích hôn nhân của bà L và ông D không đạt được. Hơn nữa, ông D đã được Tòa án tống đạt thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như các văn bản tố tụng khác nhưng vẫn không có mặt và cũng không có bất kỳ ý kiến nào gửi cho Tòa án về việc bà L xin ly hôn. Như vậy, ông D không còn quan tâm, thiết tha đến cuộc sống hôn nhân gia đình, tình cảm vợ chồng giữa bà L và ông D không còn khả năng đoàn tụ nên yêu cầu xin ly hôn của bà L là có căn cứ.
- Về con chung: Bà L yêu cầu được nuôi con là Hà Kiền L1, sinh ngày 22/01/2013. Hội đồng xét xử xét thấy, trẻ Kiền L1 đã trên 7 tuổi và có nguyện vọng được ở cùng mẹ. Hiện nay trẻ Kiền L1 đang ở cùng với bà L, để không xáo trộn cuộc sống, sinh hoạt của trẻ Hội đồng xét xử xem xét giao trẻ Hà Kiền L1, sinh ngày 22/01/2013 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Bà L tự nguyện không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- Về tài sản chung: Bà L khai không có.
- Về nợ chung: Bà L khai không có.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà L phải chịu án phí về Hôn nhân gia đình theo quy định tại điểm khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 116, Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Chấp nhận yêu cầu của bà Châu Thị Ngọc L
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Châu Thị Ngọc L được ly hôn với ông Hà Vĩnh D.
- Về con chung: Giao con chung tên Hà Kiền L1, sinh ngày 22/01/2013 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà L không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.
Ông Hà Vĩnh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai có quyền cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.
Vì quyền lợi về mọi mặt của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
- Về tài sản chung: Bà L khai không có.
- Về nợ chung: Bà L khai không có.
- Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, bà L chịu nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền số 0038564 ngày 16 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà L đã nộp đủ tiền án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Hà Thiên Tâm |
Bản án số 410/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 410/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
