TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 410/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 4 - 2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thạch Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Phước Trinh;
- Bà Phạm Thị Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Như Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không có.
Trong ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1002/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 100/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ô S, sinh năm 1994;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A đường L, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Trần L, sinh năm 1991;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B Đường số F, ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 17/7/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Lê Thị Ô S trình bày:
Bà và ông Lê Trần L tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, cùng nhau làm việc để phát triển kinh tế gia đình. Tuy nhiên, những năm gần đây thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không còn tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã. Bà đã cho ông L cơ hội để hàn gắn quan hệ vợ chồng nhưng ông L vẫn không thay đổi. Hai bên đã ly thân từ tháng 6/2023 đến nay. Nay bà xác định không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng với ông L nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông L.
Về con chung: Bà và ông L có 02 (Hai) con chung tên Lê Tấn P, sinh ngày 13/9/2015 và Lê Thị Bảo K, sinh ngày 20/5/2021. Bà S yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà S xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà S xác định không có.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho ông Lê Trần L thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông L đều vắng mặt.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn là bà Lê Thị Ô S giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông Lê Trần L; về con chung: Có 02 (hai) con chung tên Lê Tấn P, sinh ngày 13/9/2015 và Lê Thị Bảo K, sinh ngày 20/5/2021. Bà S yêu cầu được nuôi dưỡng 02 (hai) con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 17/7/2023, bà Lê Thị Ô S yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Trần L; bà và ông L có 02 (hai) con chung tên Lê Tấn P, sinh ngày 13/9/2015 và Lê Thị Bảo K, sinh ngày 20/5/2021. Bà yêu cầu được nuôi dưỡng 02 (hai) con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; nghĩa vụ dân sự chung: Không có. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn là ông Lê Trần L cư trú tại Số B Đường số F, ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi theo Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về tố tụng:
Bị đơn là ông Lê Trần L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành phiên tòa vắng mặt ông L theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Lê Thị Ô S và ông Lê Trần L tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 27, quyển số 01/2015 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/02/2015. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét trình bày của bà S, bà và ông L tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2015 và có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, cùng nhau làm việc để phát triển kinh tế gia đình. Tuy nhiên, những năm gần đây thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không còn tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã. Bà đã cho ông L cơ hội để hàn gắn quan hệ vợ chồng nhưng ông L vẫn không thay đổi. Hai bên đã ly thân từ tháng 6/2023 đến nay. Nay bà xác định không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng với ông L nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông L.
Xét ông L không đến Tòa án theo giấy triệu tập để cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ cho thấy ông L không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng cùng với bà S. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét các tài liệu, chứng cứ do bà S cung cấp để giải quyết vụ án. Xét tình trạng quan hệ vợ chồng giữa bà S và ông L đã đến mức trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà S được ly hôn với ông L là có cơ sở.
[4] Về con chung:
Bà S và ông L có 02 (hai) con chung tên Lê Tấn P, sinh ngày 13/9/2015 và Lê Thị Bảo K, sinh ngày 20/5/2021. Con chung hiện đang sống với bà S nên bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung; đồng thời tại Bản tự khai ngày 12/12/2023 trẻ Lê Tấn P trình bày nguyện vọng muốn sống chung với bà S. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung tên Lê Tấn P và Lê Thị Bảo K cho bà S nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà S không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung. Xét đây là sự tự nguyện của bà S, không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Nếu sau này bà S có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sẽ được Tòa án giải quyết trong vụ án khác.
[5] Về tài sản chung: Bà S xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[6] Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà S xác định không có.
Ông Lê Trần L vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, nếu ông L có tranh chấp về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung sẽ được giải quyết trong vụ án khác.
[7] Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm:
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xét buộc bà S phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân:
- Về con chung:
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
- Về án phí sơ thẩm:
- Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà Lê Thị Ô S về việc cho ly hôn giữa bà Lê Thị Ô S và ông Lê Trần L.
Kể từ ngày Bản án phát sinh hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 27, quyển số 01/2015 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/02/2015 cho bà S và ông L không còn giá trị pháp lý.
Bà Lê Thị Ô S và ông Lê Trần L có 02 (hai) con chung tên Lê Tấn P, sinh ngày 13/9/2015 và Lê Thị Bảo K, sinh ngày 20/5/2021.
Giao 02 con chung tên Lê Tấn P và Lê Thị Bảo K cho bà S được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà S về việc tạm thời không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi dưỡng con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, yêu cầu của cá nhân, tổ chức theo quy định tại Khoản 5 Điều 84, Khoản 2 Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc trợ cấp cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Bà Lê Thị Ô S phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà S đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2023/0018076 ngày 29/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký, đóng dấu) Huỳnh Thạch Vũ |
Bản án số 410/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 410/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
