|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 410/2025/HNGĐ-ST Ngày: 13 - 6 - 2025 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Chinh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh
2. Bà Võ Kim Hường
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Thúy – Thư ký Toà án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thúy Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 285/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 810/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1997 (căn cước công dân [...]); Thường trú: Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Thừa Thiên Huế; tạm trú: 10/36 tổ C, khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, xin vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Ngô Việt T, sinh năm 1989 (căn cước công dân [...]); Thường trú: Tổ 6 Minh Tiến A, C, C, Quảng Ninh; Tạm trú: Lô S, đường số A, nhóm CN I, khu C, phường S quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Hiện đang bị giam giữ tại Trại giam L; Địa chỉ: Ấp I, xã L, huyện B, tỉnh Long An (Buồng 2.3, K2 Đội 12), xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 04/4/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Ngô Việt T tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 47/2020 do Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 03/9/2020.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, lối sống, ông bà đã sống ly thân từ đầu năm 2022, trước khi ông T bị bắt bà đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành. Nay bà Đ yêu cầu ly hôn với ông T.
Về con chung: Có 01 con chung tên Ngô Viết B, sinh ngày 07/11/2020. Khi ly hôn, bà Đ yêu cầu nuôi con và không yêu cầu ông Trung cấp D.
Về quan hệ tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Ngô Việt T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông xác nhận thời gian kết hôn như bà Đ trình bày là đúng. Trong qúa trình chung sống giữa ông bà không có mâu thuẫn gì nhiều, nay khi bà Đ yêu cầu ly hôn thì ông không đồng ý, ông muốn đoàn tụ cho con cái có đủ cha mẹ.
Về con chung: Có 01 con chung tên Ngô Viết B, sinh ngày 07/11/2020. Khi ly hôn, ông yêu cầu nuôi con và không yêu cầu bà Đ cấp dưỡng.
Về quan hệ tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Toà án đã tổ chức cho các bên hoà giải nhưng không tiến hành hòa giải được nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Tại phiên toà hôm nay:
- Nguyên đơn: Xin vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu.
- Bị đơn: Xin vắng mặt và giữ nguyên ý kiến.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú có ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Đương sự, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đều tuân theo pháp luật tố tụng qui định tại Điều 41, 52, 58, 59, 60, 61, 167, 171, 179 và Điều 209 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số Giấy chứng nhận kết hôn số 47/2020 do Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 03/9/2020 thì quan hệ hôn nhân giữa bà Đ và ông T là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Trước khi ông T bị bắt có cư trú tại quận T. Nay bà Đ yêu cầu ly hôn, Toà án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết là phù hợp với khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục vắng mặt đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân quận Tân Phú vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà Đ và ông T.
[2] Về yêu cầu của đương sự:
Về quan hệ hôn nhân: Trong quá trình giải quyết, bà Đ khai giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm lối sống, vợ chồng đã sống ly thân, nay bà Đ yêu cầu ly hôn, ông T không đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy, nguyên tắc cơ bản của hôn nhân là tự nguyện, mục đích hôn nhân là “vợ chồng cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc”, trong trường hợp này giữa bà Đ và ông T đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đ.
Về quan hệ con chung: Hai bên xác nhận có 01 con chung tên Ngô Viết B, sinh ngày 07/11/2020. Bà Đ và ông T đều yêu cầu nuôi con và không yêu cầu bên kia cấp dưỡng. Xét thấy, hiện nay ông T đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam L không có đủ điều kiện để chăm sóc giáo dục con chung, nên giao con chung Ngô Viết B cho bà Đ trực tiếp nuôi là đảm bảo sự thuận tiện và quyền lợi về mọi mặt cho trẻ, ghi nhận việc bà Đ không yêu cầu ông Trung cấp D nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung: Bà Đ khai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Ông T xác nhận không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Hai bên xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về án phí
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Nguyễn Thị Đ chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà Đ đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0007884 ngày 04/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 177; Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 117 và Điều 118 Luật Hôn nhân và gia Đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ được ly hôn với ông Ngô Việt T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 47/2020 do Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 03/9/2020 cho bà Nguyễn Thị Đ và ông Ngô Việt T hết hiệu lực kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực.
Về quan hệ con chung: Giao con chung tên Ngô Viết B, sinh ngày 07/11/2020 cho bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông T do bà Đ không yêu cầu.
+ Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng do các bên tự thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa giải quyết.
+ Ông T được quyền thăm nom con, không ai được cản trở.
+ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức (người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội L1), Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Hai bên xác nhận không có.
2. Về án phí.
Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng do bà Đ đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007884 ngày 04/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H đã nộp đủ án phí.
Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Quyền kháng cáo.
Đương sự vắng mặt tại phiện tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Chinh |
Bản án số 410/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 410/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
