|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 410/2024/DS-PT Ngày 12 tháng 6 năm 2024. V/v: “Tranh chấp chia di sản thừa kế; tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trí Tuấn
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Thanh Dũng
Bà Hồ Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 745/2024/TLPT-DS ngày 30 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp chia di sản thừa kế, tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 116/2023/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 828/2024/QĐPT - DS
ngày 24 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn : Bà Trần Kim L, sinh năm 1939 (vắng mặt)
Địa chỉ : số B, tổ B, khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Kim L : Ông Châu Kim M, sinh năm 1965 (có mặt)
Địa chỉ : Ấp T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp : Luật sư Phan Văn Đ – Công ty L4 (có mặt)
Địa chỉ : số E đường B, phường M, thành phố L, An Giang.
Bị đơn : Ông Trần Sắc T, sinh năm 1962 (vắng mặt)
Địa chỉ : số B, tổ B, khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Sắc T : Bà Trần Thị H, sinh năm 1983. Địa chỉ : Khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang. (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp : Luật sư Huỳnh Trung H1 – Văn phòng L5 (có mặt)
Địa chỉ : A, đường số A, B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :
1/ Bà Dương Thị H2, sinh năm 1963 (có mặt)
Địa chỉ : số B, tổ B, khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Dương Thị H2 : Bà Trần Thị H, sinh năm 1983. Địa chỉ : Khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt)
2/ Chị Trần Thị H, sinh năm 1983 (có mặt)
Địa chỉ : số B, tổ B, khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
Đại diện theo ủy quyền : Ông Phan Văn T1
3/ Anh Trần Văn H3, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của anh Trần Văn H3: Bà Trần Thị H, sinh năm 1983. Địa chỉ : Khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt)
4/ Chị Dương Thị Q, sinh năm 1989 (vợ Trần Văn H3) (vắng mặt)
5/ Cháu Trần Dương A, sinh năm 2008 (Con Trần Văn H3) (vắng mặt)
6/ Cháu Trần Thị Đoan T2, sinh năm 2012 (con Trần Văn H3) (vắng mặt)
Cùng địa chỉ : Tổ B, khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
7/ Chị Trần Kim T3, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ : số B, tổ B, khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Trần Kim C: Bà Trần Thị H, sinh năm 1983. Địa chỉ : Khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt)
8/ Chị Trần Thị Kim C1, sinh năm 1991(vắng mặt)
Địa chỉ : số B, tổ B, khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Trần Kim C1: Bà Trần Thị H, sinh năm 1983. Địa chỉ : Khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt)
9/ Chị Trần Thị Kim T4, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ : ấp T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
10/ Anh Chau Sam B, sinh năm 1986 (chồng C1) (vắng mặt)
11/ Cháu Chau B1, sinh năm 2017 (con C1) (vắng mặt)
2
12/ Cháu Anh T5, sinh năm 2012 (vắng mặt)
Địa chỉ : số B, tổ B, khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
13/ Anh Trần Dương T6, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Địa chỉ : số B, tổ B, khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của anh Trần Dương T6: Bà Trần Thị H, sinh năm 1983. Địa chỉ : Khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt)
14/ Chị Phan Thị Mỹ N, sinh năm 1995
Địa chỉ : số B, tổ B, khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
15/ Anh Hoa Quốc T7 (chồng của Trần Thị Kim T4) (vắng mặt)
16/ Cháu Hoa Quốc H4 (con của Trần Thị Kim T4) (vắng mặt)
17/ Cháu Hoa Tường V (con của Trần Kim T3) (vắng mặt)
Cùng địa chỉ : Tổ B, khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
18/ Chau Sa R (chồng H), sinh năm 1983 (vắng mặt)
19/ Cháu Chau My Thu N1, sinh năm 2006 (vắng mặt)
20/ Cháu Nguyễn Thế Q1 (con của Trần Kim T3) (vắng mặt)
Cùng địa chỉ : Tổ B, khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
21/ Anh Trần Kim L1, không rõ năm sinh, địa chỉ (vắng mặt)
22/ Anh Trần Kim V1, không rõ năm sinh, địa chỉ (vắng mặt)
Cùng địa chỉ : Tổ B, khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
23/ Anh Trần Duy K, sinh năm 1962 (vắng mặt)
24/ Anh Trần Xuân N2, sinh năm 1966 (vắng mặt)
25/ Chị Trần Thị Kim S, sinh năm 1967 (vắng mặt)
26/ Chị Trần Thị Sa K1, sinh năm 1971 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ : Khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
27/ Anh Trần Thiện N3, sinh năm 1973 (vắng mặt)
Địa chỉ : ấp T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
28/ Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang.
Đại diện theo ủy quyền : Ông Đỗ Chí Q2 – Phòng T10 (đơn xin xét xử vắng)
Địa chỉ : Khóm Đ, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang.
- Người kháng cáo: Bị đơn: Ông Trần Sắc T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị H2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trình bày của nguyên đơn bà Trần Kim L:
3
Ông Trần Kim X (chết 1981) và bà Trần Thị L2 (chết 1948) sinh được hai người con là Trần Kim L và Trần Kim L1, do bà L2, chết đến năm 1955 ông X lấy thêm vợ là bà Neang K2, ông X và bà Neang K2 (chết năm 2002) cũng sinh được hai người con là Trần Kim V1 và Trần Sắc T. Lúc sinh thời cha mẹ bà L được thực dân Pháp cấp cho phần đất thổ cư có chiều ngang 40m, chiều dài 60m, diện tích 2.400m², quá trình sử dụng đất cha mẹ bà L có cho một số người cất nhà ở phía sau hậu nên chiều dài chỉ còn lại 45m.
Năm 1979 bà L được cha cho phần đất chiều ngang 11m, chiều dài 26m đã có hàng rào làm ranh đất, bà L đã cất nhà và ở ổn định từ năm 1979 đến nay. Ngoài ra trước khi chết cha, mẹ bà L còn để lại phần đất 1.506,5m² nhưng năm 2002, ông Trần Sắc T là em cùng cha khác mẹ với bà L tự ý đăng ký kê khai đo đạc đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bao gồm cả phần đất của bà sử dụng từ năm 1979 đến nay gồm:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H.01249pH, thửa đất số 7, tờ bản đồ số 32, diện tích 1.506,5 m², do UBND huyện T cấp cho ông Trần Sắc T và bà Dương Thị H2 ngày 20/12/2005. Đất tọa lạc tại thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H.00827pH, thửa đất số 10, tờ bản đồ số 31, diện tích 286,9 m², do UBND huyện T cấp cho ông Trần Sắc T và bà Dương Thị H2 ngày 01/11/2005. Đất tọa lạc tại thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
Trước khi qua đời cha, mẹ bà không để lại di chúc nên tài sản chung của cha mẹ bà trở thành di sản thừa kế. Sau khi cha, mẹ bà qua đời thì ông Trần Sắc T là người trực tiếp quản lý di sản của cha mẹ, bà đã nhiều lần yêu cầu ông T chia di sản thừa kế cho bà nhưng ông T không đồng ý.
Theo đơn khởi kiện trước đây bà Trần Kim L có yêu cầu:
Yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Trần Kim X gà là Trần Thị L2, N4 Kiệp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.01249pH do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 20/12/2005, đất tọa lạc tại thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang: Diện tích 1.506,5m² yêu cầu chia làm 02 kỷ phần, bà L xin nhận 01 (một) kỷ phần thừa kế như sau: Diện tích 753,25m² (đất thổ cư: 150m² và đất lâu năm khác diện tích 603,25m²). Bà L xin được nhận kỷ phần thừa kế bằng hiện vật.
- Công nhận cho bà Trần Kim L là chủ sử dụng đất diện tích 286,9m² do đã được cha, mẹ cho từ năm 1979 (trước khi cha, mẹ qua đời). Giá trị tài sản khoảng 800.000.000 đồng.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.01249pH, do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 20/12/2005, thửa số 07, tờ bản đồ số 32, diện tích 1.506,5m² và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.00827pH, do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 01/11/2005, thửa số 10, tờ bản đồ số 31, diện tích 286,9m² (người đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là ông Trần Sắc T và bà Dương Thị H2). Đất tọa lạc tại thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
4
Ngày 01/8/2023 bà L có đơn xin rút lại phần yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Trần Kim X và bà Trần Thị L2, N4 Kiệp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.01249pH do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 20/12/2005, đất tọa lạc tại thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang, diện tích 1.506,5m². Xin rút lại yêu cầu Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.01249pH, do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 20/12/2005, thửa số 07, tờ bản đồ số 32, diện tích 1.506,5m² do Trần Sắc T và chị Dương Thị H2 đứng tên.
Bà L chỉ yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.00827pH, do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 01/11/2005, thửa số 10, tờ bản đồ số 31, diện tích 286,9m² (người đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là ông Trần Sắc T và bà Dương Thị H2). Đất tọa lạc tại thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang. Yêu cầu công nhận cho bà Trần Kim L được đúng tên diện tích 286,9m² vì đây là đất của cha mẹ cho bà L và bà L cũng đã cất nhà ở trên phần đất này từ 1979 đến nay. Ông T tự ý. khai nên được cấp đại trà là không đúng chủ sở hữu.
Theo đơn yêu cầu phản tố, bản tự khai bị đơn ông Trần Sắc T do bà Võ Thị Đ1 đại diện trình bày: Ông Trần Sắc T là con của ông Trần Kim X (chết năm 1981) và vợ sau là bà Neang K2 (chết năm 2002). Bà Trần Kim L là con của ông Trần Kim X và bà Trần Thị L2, bà Trần Thị L2 chết từ năm 1948. Năm 1955 ông X lấy thêm vợ sau là bà Neang K2. Trước khi bà L2 chết thì bà Trần Kim L đã lập gia đình và theo chồng về huyện T sinh sống. Ông X và bà K2 (vợ sau của ông X) sinh được hai người con là Trần Kim V1 và Trần Sắc T. Đến năm 1960 chế độ cũ bố trí cho gia đình ở trên 02 thửa đất này, lúc này bà L2, mẹ của bà L đã mất, bà L theo chồng về huyện T sinh sống. Thời điểm đó gia đình ông T chỉ còn cha, mẹ và hai anh em ông T, ông V1. Sau đó ông Trần Kim V1 ra riêng, gia đình ông T chỉ còn ông T và cha mẹ sống đến nay, ông T là người chăm sóc và nuôi dưỡng cha mẹ đến khi cha mẹ qua đời.
Ngày 07/2/1976 cha ông khai về nhân khẩu gia đình khi điều tra dân số chỉ có 04 người gồm cha, mẹ và hai anh em ông T. Năm 1979 chiến tranh biên giới T, gia đình bà L ở thị trấn T phải chạy giặc về Ó nhưng không có chỗ ở. Do nghĩ tình nghĩa chị em cùng cha, khác mẹ nên ông T đồng ý cho bà L ở tạm căn nhà số B, thuộc thửa đất số 10, tờ bản đồ số 31, diện tích 286,9m² loại đất thổ cư. Việc cho ở tạm không làm giấy tờ.
Năm 1981 cha ông T (ông Trần Kim X) mất, đến năm 2002 thì mẹ ông T bà Neang K2 mất. Trước khi qua đời cha mẹ ông để lại toàn bộ đất đai này lại cho ông T, hàng năm gia đình ông T đều đóng thuế theo quy định. Năm 2005 gia đình ông T xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai và cấp cho hộ gia đình, sau đó vợ chồng ông T được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H.01249pH, thửa đất số 7, tờ bản đồ số 32, diện tích 1.506,5 m², ngày 20/12/2005. Đất tọa lạc tại thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H.00827pH, thửa đất số 10, tờ bản đồ số 31, diện tích 286,9m, ngày 01/11/2005. Đất tọa lạc tại thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
5
Khi vợ chồng ông T làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất trên thì bà L biết rõ nhưng không có bất kỳ ý kiến gì, điều này cho thấy bà L biết việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông T là đúng và bà L cũng không có quyền gì trên 02 thửa đất trên. Năm 2018, bà L có hỏi vợ chồng ông T để cất lại nhà nhưng vợ chồng ông T không đồng ý vì phần đất này là của vợ chồng ông T nhưng bà L vẫn tự cất và bị UBND thị trấn Óc Eo lập biên bản xử lý với lý do không có giấy phép xây dựng và phần đất cũng không thuộc quyền sử sử dụng đất của bà L. Lúc này bà L mới đến nhà ông T xin thửa đất này và đề nghị sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi đó ông T cũng đồng ý cho bà L phần đất trên nhưng với điều kiện phải chừa ra 1,0 m chiều ngang để làm lối đi cho các con của ông T ở phía sau, khi đó bà L đồng ý nên ông T nhờ UBND thị trấn Ó đến để cắm mốc ranh và chừa lại 1,0 m làm đường đi và có lập biên bản nhưng sau đó bà L đổi ý không chịu chừa ra 1,0m chiều ngang như đã thỏa thuận mà đòi lấy hết phần đất trên. Nếu bà L không chừa cho 1,0 m chiều ngang thì sau này khi các con của ông T tách hộ ra riêng thì sẽ không có lối đi nên ông T không đồng ý cho bà L phần đất trên từ đó phát sinh tranh chấp. UBND thị trấn Ó đã mời các bên lên hòa giải và cũng đã giải thích nhưng bà L không đồng ý mà đòi lấy hết đất. Vợ con ông T biết sự việc trên và cũng không đồng ý việc ông T tặng cho phần đất trên cho bà L. Năm 2019 bà L kiện ông T đến Tòa án nhân dân tỉnh An Giang với lý do ông Thứa cho đất mà không làm hợp đồng chuyển nhượng. Sau khi Tòa án thụ lý, mời các bên đến làm việc, động viên giải thích pháp luật thì bà L rút lại đơn khởi kiện.
Nay với yêu cầu khởi kiện của bà L thì ông T không đồng ý vì bà L không có quyền tranh chấp thừa kế đối với hai thửa đất trên vì bà L không cung cấp được giấy tờ gì thể hiện quyền sử dụng đất của hai thửa đất trên là tài sản của ông X và bà L2 để lại. Hai thửa đất này là Nhà nước công nhận cho hộ gia đình ông T sau giải phóng và ông T đã sử dụng ổn định đến nay.
Bà Trần Thị L2 chết năm 1948, ông Trần Kim X chết năm 1981 nên bà L2 và ông X đã chết trên 30 năm nên căn cứ theo khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 và tại Phần 1 Giải đáp số 01/GĐ-TANDTC năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 10/9/1990 thì thời hiệu khởi kiện chia thừa kế là bất động sản được thực hiện theo quy định tại Điều 36 của Pháp lệnh thừa kế năm 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HDTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng quy định của Pháp lệnh Thừa kế, cụ thể là: “Thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10/9/1990 đến nay là trên 30 năm”. Nay bà L xin rút lại yêu cầu chia thừa kế thì ông T cũng đồng ý.
Về yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà L thì ông T không đồng ý vì trước thời điểm gia đình ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không có bất kỳ tài liệu nào chứng minh quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên là của ông X, bà L2 hay người nào khác. Trong hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông T được UBND thị trấn Ó xác nhận là sử dụng ổn định từ năm 1980 - 1981 đến nay, phù hợp quy hoạch và thửa đất
6
trên chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay được ghi vào sổ địa chính của chính quyền địa phương. Điều này chứng minh gia đình ông T là người sử dụng ổn định và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của người sử dụng đất cho đến thời điểm được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong suốt quá trình sử dụng đất, sau đó đăng ký kê khai làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có bất kỳ tranh chấp hay đơn khiếu nại, khiếu kiện về đất đai. UBND huyện T cũng đã khẳng định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00827pH ngày 01/11/2005 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01249pH ngày 20/12/2005 là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của pháp luật tại Văn bản số 1988/UBND-NC ngày 30/7/2020 gửi Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
Trước đây vào năm 2018 ông T có giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L diện tích 286,9m² để sang tên cho bà L trong đó có thỏa thuận là ông T lấy lại 01m chạy dài làm đường đi nhưng bà L không đồng ý chia lại 01m nên xảy ra tranh chấp đến hôm nay.
Nay ông T có yêu cầu phản tố, bà H2 có yêu cầu độc lập buộc bà Trần Kim L di dời nhà, trả lại phần đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà L đang giữ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.00827pH, thửa số 10, tờ bản đồ số 31, diện tích 286,9m² do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho vợ chồng ông T là ông Trần Sắc T và bà Dương Thị H2 ngày 01/11/2005. Đất tọa lạc tại thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
Theo đơn yêu cầu độc lập, bản tự khai, lời khai và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị H2 trình bày: Thống nhất với lời trình bày của chồng là ông Trần Sắc T, không có ý kiến gì cần trình bày bổ sung thêm.
Theo bản tự khai, lời khai và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H3, bà Trần Thị Kim T4 và bà Trần Thị Kim C1 (do ông Trần Sắc T đại diện) trình bày: Ý kiến trình bày của ông T cũng là ý kiến của các con ông T, với tư cách là đại diện theo ủy quyền của các con ông T, ông T vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày trên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị H, bà Trần Thị Kim T8, C Bộ thống nhất trình bày: Thống nhất với lời trình bày của ông Trần Sắc T, không có ý kiến gì cần trình bày bổ sung thêm và không có tranh chấp trong vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Thiện N3, Trần Duy K, Trần Xuân N2, Trần Thị Kim S, Trần Thị Sa K1 có lời khai trình bày: Các ông bà là con của ông Trần L3, trong vụ án tranh chấp giữa bà L và ông T thì các ông bà không có ý kiến và không có tranh chấp gì trong vụ án, do bận làm ăn nên xin được vắng mặt không tham gia quá trình giải quyết vụ án.
Theo bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện T do ông Đỗ Chí Q2 làm đại diện trình bày:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.01249pH, cấp ngày 20/12/2005 cho ông Trần Xắc T9 và bà Dương Thị H2, diện tích 1.506,5m², thửa số 07, tờ bản đồ số 32, mục đích sử dụng đất: đất ở tại đô thị diện tích 300,0m² và đất trồng cây lâu năm diện tích 1.206,5m² đất tọa lạc tại thị trấn Ó. Giấy chứng nhận này được
7
cấp lần đầu theo đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ dân ngày 10/4/2004 có nguồn gốc từ đất của cha mẹ cho năm 1981 được UBND thị trấn Ó xác nhận ngày 08/8/2005 với các nội dung: Nguồn gốc sử dụng đất do cha mẹ cho năm 1981, không tranh chấp và phù hợp quy hoạch sử dụng đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01249pH cấp ngày 20/12/2005 được cấp theo quy định tại khoản 4, Điều 50 Luật Đất đai năm 2003.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.00827pH, cấp ngày 01/11/2005 cho ông Trần Sắc T và bà Dương Thị H2, diện tích 286,9m², thửa số 10, tờ bản đồ số 31, mục đích sử dụng đất: đất ở tại đô thị, tọa lạc tại thị trấn Ó. Giấy chứng nhận này được cấp lần đầu theo đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ dân ngày 15/4/2004 có nguồn gốc đất do ông bà để lại năm 1980, được UBND thị trấn Ó xác nhận ngày 30/02/2005 với các nội dung: Sử dụng từ năm 1981, không tranh chấp và phù hợp quy hoạch sử dụng đất. Giấy chứng quyền sử dụng đất số H.00827pH, cấp ngày 01/11/2005 được cấp theo quy định tại khoản 4, Điều 50 Luật đất đai năm 2003.
Theo Điều 2, Quyết định số 1747/2005/QĐ-UBND ngày 16/6/2005 của UBND tỉnh A (có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2005 thì hạn mức đất ở cho hộ gia đình, cá nhân tại thị trấn Ó là 300,0m²). Hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên được cấp cho ông Trần Sắc T và bà Dương Thị H2 với tổng diện tích đất ở là 586,9m², vượt hạn mức đất ở theo Quyết định 1747/20052/QĐ- UBND ngày 16/6/2005 của UBND tỉnh A.
Nguyên nhân vượt hạn mức do 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên được xét cấp đại trà với số lượng, quy mô lớn nhiều hộ gia đình, cá nhân nên dẫn đến hồ sơ xét cấp bị sai sót về hạn mức đất ở.
Ý kiến về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Trần Sắc T và bà Dương Thị H2 như sau:
Hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên được cấp theo quy định tại khoản 4 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003, tuy nhiên diện tích đất ở được cấp vượt hạn mức. Do đó trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đề nghị Tòa án tổ chức đối chất và xác minh làm rõ, nơi có nhà ở nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nào thì công nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp, đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có nhà ở thì đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trong quá trình giải quyết, Toà án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, thông báo hòa giải và triệu tập hợp theo quy định ông Trần Dương T6 theo quy định pháp luật nhưng ông T6 không đến tham gia phiên hòa giải, cũng không gửi văn bản ghi ý kiến mà không có lý do, nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của ông T6 được. Ông Trần Kim V1, ông Trần Kim L1 là anh em ruột với bà L, ông T nhưng nguyên đơn và bị đơn chỉ cung cấp thông tin cho biết hai người đang sinh sống tại Mỹ chứ không biết địa chỉ cụ thể như thế nào. Tòa án có đưa vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng do không cung cấp địa chỉ cụ thể nên không ghi nhận ý kiến của ông L1, ông V1 được.
8
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.00827pH, do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 01/11/2005, thửa số 10, tờ bản đồ số 31, diện tích 286,9m² (người đứng tên trong giấy chúng nhận quyền sử dụng đất là ông Trần Sắc T và bà Dương Thị H2). Đất tọa lạc tại thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
Công nhận cho bà Trần Kim L được đứng tên diện tích 286,9m² vì đây là đất của cha mẹ cho bà L và bà L cũng đã cất nhà ở trên phần đất này từ 1979 đến nay.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 116/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, đã quyết định:
Căn cứ Điều 26; Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 120, Điều 562; Điều 569 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Kim L.
Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H.00827pH, do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 01/11/2005, thửa số 10, tờ bản đồ số 31, diện tích 286,9 m² (người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là ông Trần Sắc T và bà Dương Thị H2). Đất tọa lạc tại thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
Không chấp nhận yêu cầu công nhận cho bà Trần Kim L được đứng tên diện tích 286,9 m².
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Sắc T và yêu cầu độc lập của bà Dương Thị H2 về việc yêu cầu bà Trần Kim L di dời nhà, trả lại phần đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà L đang giữ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.00827pH, thửa số 10, tờ bản đồ số 31, diện tích 286,9 m² do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho vợ chồng ông Trần Sắc T và bà Dương Thị H2 ngày 01/11/2005. Đất tọa lạc tại thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Kim L về yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Trần Kim X và bà Trần Thị L2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.01249pH do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 20/12/2005, đất tọa lạc tại thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang, diện tích 1.506,5m², yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.01249pH, do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 20/12/2005, thửa số 07, tờ bản đồ số 32, diện tích 1.506,5 m² do ông Trần Sắc T và bà Dương Thị H2 đứng tên.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 05/10/2023, bị đơn là ông Trần Sắc T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
9
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Sắc T và bà Dương Thị H2 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận diện tích đất đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng cho gia đình bị đơn, buộc nguyên đơn di dời trả lại đất.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày bản án sơ thẩm xét xử là chưa khách quan, toàn diện ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn. Xét về nguồn gốc sử dụng đất trước đây ông Trần Sắc T vẫn là người quản lý được cha mẹ để lại. Do đó đề nghị, sửa bản án sơ thẩm chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Nguyên đơn bảo lưu quan điểm đã trình bày ở cấp sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, từ khi thụ lý đến thời điểm hiện nay thấy rằng Thẩm phán; Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vi phạm.
Về nội dung: Bản án sơ thẩm tuyên xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự và chứng cứ không có tài liệu nào thể hiện ông T được tặng cho quyền sử dụng đất. Ủy ban nhân dân huyện T cũng xác nhận có sai sót trong việc cấp vượt hạn mức. Bị đơn kháng cáo không cấp được chứng cứ nào mới do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện và đầy đủ chứng cứ Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Về tố tụng:
+ Đơn kháng cáo của ông Trần Sắc T và bà Dương Thị H2 làm trong hạn luật định và hợp lệ được xem xét tại cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt nên căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.
+ Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 26, 37, 38 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
10
[1] Bà Trần Kim L có yêu cầu được chia di sản thừa kế của ông Trần Kim X và bà Trần Thị L2, N4 Kiệp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.01249pH do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 20/12/2005, đất tọa lạc tại thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang: Diện tích 1.506,5m² yêu cầu chia làm 02 kỷ phần, bà L xin nhận 01 (một) kỷ phần thừa kế như sau: Diện tích 753,25m² (đất thổ cư: 150m² và đất lâu năm khác diện tích 603,25m²). Bà L xin được nhận kỷ phần thừa kế bằng hiện vật.
- Công nhận cho bà Trần Kim L là chủ sử dụng đất diện tích 286,9m² do đã được cha, mẹ cho từ năm 1979 (trước khi cha, mẹ qua đời). Giá trị tài sản khoảng 800.000.000 đồng.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.01249pH, do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 20/12/2005, thửa số 07, tờ bản đồ số 32, diện tích 1.506,5m² và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.00827pH, do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 01/11/2005, thửa số 10, tờ bản đồ số 31, diện tích 286,9m² (người đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là ông Trần Sắc T và bà Dương Thị H2). Đất tọa lạc tại thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
Ngày 01/8/2023 bà L có đơn xin rút lại phần yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Trần Kim X và bà Trần Thị L2, N4 Kiệp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.01249pH do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 20/12/2005, đất tọa lạc tại thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang, diện tích 1.506,5m². Xin rút lại yêu cầu Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.01249pH, do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 20/12/2005, thửa số 07, tờ bản đồ số 32, diện tích 1.506,5m² do Trần Sắc T và chị Dương Thị H2 đứng tên.
Bà L chỉ yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.00827pH, do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 01/11/2005, thửa số 10, tờ bản đồ số 31, diện tích 286,9m² (người đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là ông Trần Sắc T và bà Dương Thị H2). Đất tọa lạc tại thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang. Yêu cầu công nhận cho bà Trần Kim L được đúng tên diện tích 286,9m² vì đây là đất của cha mẹ cho bà L và bà L cũng đã cất nhà ở trên phần đất này từ 1979 đến nay.
Bị đơn có yêu cầu phản tố cho rằng Ông Trần Sắc T là con của ông Trần Kim X (chết năm 1981) và vợ sau là bà Neang K2 (chết năm 2002). Bà Trần Kim L là con của ông Trần Kim X và bà Trần Thị L2, bà Trần Thị L2 chết từ năm 1948. Năm 1981 cha ông T (ông Trần Kim X) mất, đến năm 2002 thì mẹ ông T bà Neang K2 mất. Trước khi qua đời cha mẹ ông để lại toàn bộ đất đai này lại cho ông T, hàng năm gia đình ông T đều đóng thuế theo quy định. Năm 2005 gia đình ông T xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai và cấp cho hộ gia đình, sau đó vợ chồng ông T được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H.01249pH, thửa đất số 7, tờ bản đồ số 32, diện tích 1.506,5 m², ngày 20/12/2005. Đất tọa lạc tại thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H.00827pH, thửa đất số 10, tờ bản đồ số 31, diện tích 286,9m, ngày 01/11/2005. Đất tọa lạc tại thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
11
Khi vợ chồng ông T làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất trên thì bà L biết rõ nhưng không có bất kỳ ý kiến gì, điều này cho thấy bà L biết việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông T là đúng và bà L cũng không có quyền gì trên 02 thửa đất trên. Năm 2018, bà L có hỏi vợ chồng ông T để cất lại nhà nhưng vợ chồng ông T không đồng ý vì phần đất này là của vợ chồng ông T nhưng bà L vẫn tự cất và bị UBND thị trấn Óc Eo lập biên bản xử lý với lý do không có giấy phép xây dựng và phần đất cũng không thuộc quyền sử sử dụng đất của bà L
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn:
Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, các đương sự đều thừa nhận nguồn gốc đất là của ông Trần Kim X và bà Trần Thị L2, bà Neang K2. 02 ông bà được chế độ cũ cấp đất vào năm 1960. Thời điểm này ông X và bà L2 có 02 người con là Trần Kim V1 và ông Trần Sắc T (bị đơn). Trong khi đó, bà L cũng là con của ông X nhưng với vợ trước là bà Trần Thị L2 đã chết vào năm 1948. Năm 1981 ông X chết, năm 2002 thì bà K2 cũng chết nên ngày 15/4/2004, ông T tự ý đi kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất cấp đại trà đối với phần diện tích 286,9 m² mà chưa được sự đồng ý với các anh, chị, em trong nhà. Đồng thời, cũng tại Đơn xin đăng ký kê khai diện tích ngày 15/4/2004 ghi rõ nguồn gốc đất đăng ký là do ông bà để lại chứ không cơ sở nào để xác định là ông X và bà K2 có cho đất ông T.
Ngoài ra, căn cứ Công văn số 1989/UBND - NC ngày 30/7/2020 của Ủy ban nhân dân huyện T xác nhận việc cấp 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông T, bà H2 vào năm 2005 là phù hợp với quy định pháp luật nhưng do sơ suất của Hội đồng xét cấp giấy chứng nhận nên dẫn đến việc cấp vượt hạn mức sử dụng đất. Cụ thể diện đất ở đô thị cấp cho ông T trong 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 586,9 m², trong khi theo Quyết định số 1747/2005/QĐ- UBND ngày 16/6/2005 của Ủy ban nhân dân tỉnh A quy định mức cấp đất ở đô thị đối với mỗi hộ là 300 m². Do đó Ủy ban nhân dân huyện T đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.00827pH đã cấp cho hộ ông T, bà H2.
[3] Tòa cấp sơ thẩm thẩm đã xem xét, đánh giá các tài liệu, lời khai trong hồ sơ vụ án để chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà L liên quan đến việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.00827pH do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 01/11/2005 cho hộ ông Trần Sắc T là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Bị đơn và bà Dương Thị H2 kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì chứng minh đây là đất được cha mẹ để lại nên không có căn cứ để chấp nhận.
[4] Từ những phân tích và nhận định nêu trên; Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Sắc T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị H2; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Trần Sắc T và bà Dương Thị H2 phải chịu.
12
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
[1] Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Sắc T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị H2; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 116/2023/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang.
[2] Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Kim L.
Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H.00827pH, do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 01/11/2005, thửa số 10, tờ bản đồ số 31, diện tích 286,9 m² (người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là ông Trần Sắc T và bà Dương Thị H2). Đất tọa lạc tại thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
Không chấp nhận yêu cầu công nhận cho bà Trần Kim L được đứng tên diện tích 286,9 m².
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Sắc T và yêu cầu độc lập của bà Dương Thị H2 về việc yêu cầu bà Trần Kim L di dời nhà, trả lại phần đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà L đang giữ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.00827pH, thửa số 10, tờ bản đồ số 31, diện tích 286,9 m² do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho vợ chồng ông Trần Sắc T và bà Dương Thị H2 ngày 01/11/2005. Đất tọa lạc tại thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Kim L về yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Trần Kim X và bà Trần Thị L2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.01249pH do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 20/12/2005, đất tọa lạc tại thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang, diện tích 1.506,5m², yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.01249pH, do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 20/12/2005, thửa số 07, tờ bản đồ số 32, diện tích 1.506,5 m² do ông Trần Sắc T và bà Dương Thị H2 đứng tên.
Chi phí tố tụng: Ông Trần Sắc T và bà Dương Thị H2 phải chịu 14.043.540₫ (ông T, bà L đã tạm ứng chi phí thực hiện xong). Bà L đã tạm ứng một phần chi phí 8.743.540₫ do ông T, bà H2 phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà L 8.743.540₫ (tám triệu bảy trăm bốn mươi ba ngàn năm trăm bốn mươi đồng).
[3]. Án phí dân sự phúc thẩm: ông Trần Sắc T và bà Dương Thị H2, mỗi đương sự phải nộp 300.000 đồng; được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu số 0000439 và 0000438 ngày 09/10/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
13
[4] .Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải Thi hành án có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Phạm Trí Tuấn |
14
15
Bản án số 410/2024/DS-PT ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp chia di sản thừa kế; tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 410/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế; tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Kim L kiện Ông Trần Sắc T về “Tranh chấp chia di sản thừa kế, tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Tuyên xử Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Sắc T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị H; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 116/2023/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang
