Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIỀN HẢI

Tỉnh Thái Bình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HNGĐ- ST

Ngày: 31/7/2024

V/v: “ Tranh chấp hôn nhân và gia đình"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Linh
  • - Các Hội thẩm nhân dân.
  • 1. Ông Trần Văn Hiểu.
  • 2. Bà Phan Thị Hạnh Mỹ.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 79/2024/TLST-HNGĐ ngày 03/6/2024 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXX- ST ngày 30/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19/7/2024 giữa:

  1. Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị S, sinh năm 1977
    Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.
  2. Bị đơn: Anh Phan Văn T, sinh năm 1970
    Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.

(Chị S có mặt, anh T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn, quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Đỗ Thị S trình bày: Chị S và anh T kết hôn với nhau là tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 11/8/1998. Sau khi kết hôn, chị S và anh T chung sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống. Từ năm 2015 cho đến nay chị S và anh T sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị S đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải giải quyết cho chị S được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị S và anh T có 02 con chung là Phan Văn Đ, sinh ngày 21/9/1998 và Phan Việt T1, sinh ngày 06/01/2001. Hai con chung đã trưởng thành nên chị S không đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung, công nợ: Chị S và anh T không có tài sản chung, không nợ ai và không cho ai vay nợ.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/6/2024, bị đơn là anh Phan Văn T trình bày: Anh T và chị S kết hôn với nhau là tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 11/8/1998. Sau khi kết hôn, chị S và anh T chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn và chị S bỏ nhà đi từ thời gian đó cho đến nay. Nay chị S có đơn xin ly hôn anh T, quan điểm của anh T cũng đồng ý ly hôn với chị S.

Về con chung: Anh T và chị S có 02 con chung là Phan Văn Đ, sinh ngày 21/9/1998 và Phan Việt T1, sinh ngày 06/01/2001. Hai con chung đã trưởng thành nên anh T không đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung, công nợ: Anh T và chị S không có tài sản chung, không nợ ai và không cho ai vay nợ.

Tại biên bản xác minh ngày 18/6/2024, Ủy ban nhân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình cung cấp như sau: Chị Đỗ Thị S và anh Phan Văn T kết hôn với nhau là tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 11/8/1998. Sau khi kết hôn, chị S và anh T chung sống cùng gia đình anh T tại thôn Đ, xã N. Đến năm 2015 thì hai vợ chồng không chung sống cùng nhau nữa. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng giữa chị S và anh T, chính quyền địa phương không nắm được cụ thể. Về con chung: Chị S và anh T có 02 con chung là Phan Văn Đ, sinh ngày 21/9/1998 và Phan Việt T1, sinh ngày 06/01/2001. Về tài sản chung, công nợ: Chính quyền địa phương không nắm được cụ thể. Anh T và chị S đều có hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã N. Anh T đang sinh sống tại địa phương. Quan điểm của chính quyền địa phương đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc xin ly hôn giữa chị S và anh T theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện nghiêm túc các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, các văn bản tố tụng được tống đạt đầy đủ, đúng thời hạn cho các đương sự. Nguyên đơn chấp hành chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn chưa chấp hành quy định của pháp luật, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và không tham gia phiên tòa.
  • - Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị xử cho chị Đỗ Thị S được ly hôn với anh Phan Văn T; về con chung: Không đặt ra giải quyết; Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Chị Đỗ Thị S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Bị đơn là anh Phan Văn T có hộ khẩu thường trú tại xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” giữa chị Đỗ Thị S và anh Phan Văn T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải. Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị S và anh Phan Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 11/8/1998. Tại thời điểm kết hôn, chị S và anh T đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Đó là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị S và anh T chung sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị S vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh T vì tình cảm vợ chồng không còn. Bị đơn là anh T đã được Tòa án giao, gửi Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh T không đến Tòa án làm việc, tuy nhiên tại biên bản lấy lời khai quan điểm của anh T cũng đồng ý ly hôn với chị S. Mặt khác, từ năm 2015 cho đến nay chị S và anh T không chung sống cùng nhau, quan hệ vợ chồng không còn tồn tại trên thực tế, vợ chồng không còn tình yêu thương đối với nhau. Như vậy, hôn nhân của chị S và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị S, giải quyết cho chị S được ly hôn với anh T là phù hợp với quy định tại điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2]. Về con chung: Chị S và anh T có 02 con chung là Phan Văn Đ, sinh ngày 21/9/1998 và Phan Việt T1, sinh ngày 06/01/2001. Hai con chung của chị S và anh T đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không giải quyết việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3]. Về tài sản chung: Chị S và anh T đều trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai và không cho ai vay nợ.

[2.4]. Về án phí: Chị Đỗ Thị S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[2.5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271, và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị S được ly hôn với anh Phan Văn T.
  2. Về con chung: Không giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Không có.
  4. Về án phí: Chị Đỗ Thị S phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị S đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải theo biên lai thu số 0002668 ngày 03/6/2024.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (31/7/2024).

Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tiền Hải;
  • - Chi cục THADS huyện Tiền Hải;
  • - UBND xã N;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Chu Thị Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HNGĐ- ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 41/2024/HNGĐ- ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Đỗ Thị S xin ly hôn anh Phạm Văn Th
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger