Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41 /2024/DS-PT

Ngày: 31/5/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Tạ Duy Ước

Các Thẩm phán: ông Bùi Đức Thanh

ông Nguyễn Hồng Ánh

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hoa Lê - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh: bà Vũ Ngọc Quyên- Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 30/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất"

Do bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 04/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh bị kháng nghị.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐ-PT ngày 13/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2024/QĐ-PT ngày 22/5/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: anh Đỗ Văn H, sinh năm 1992; nơi thường trú: thôn D, xã T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh;
  2. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: chị Phạm Thị H1, sinh năm 1992; địa chỉ: khu C, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt

  3. Bị đơn:
  4. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1967 và bà Lưu Tam H2, sinh năm 1979; Cùng nơi thường trú: số A ngõ C đường B, tổ G, khu I, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Ông D có mặt, bà H2 vắng mặt.

    -Bà Lưu Hải H3, sinh năm 1984; Nơi thường trú: số C ngõ E đường B, tổ F, khu H, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt.

  5. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
  6. - Ông Đỗ Văn L, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968; cùng địa chỉ: thôn D, xã T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh;

    Người đại diện theo ủy quyền của ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T: ông Bùi Văn H4, sinh năm 1994; địa chỉ: số B, tổ A, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

    - Chị Đỗ Thị H5, sinh năm 1991; địa chỉ: thôn P, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.

    - Chị Đỗ Thị H6, sinh năm 1995; địa chỉ: thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt.

    - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Đỗ Văn G và cụ Nguyễn Thị C: ông Đỗ Thường X, sinh năm 1959; địa chỉ: thôn D, xã T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; bà Đỗ Thị M, sinh năm 1962; bà Đỗ Thị M1, sinh năm 1964, đều có địa chỉ: thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; bà Đỗ Thị N, sinh năm 1952; địa chỉ: tổ A, khu G, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; bà Đỗ Thị H7, sinh năm 1957; địa chỉ: tổ E, khu E, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Đều vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

    - Ủy ban nhân dân thành phố H; địa chỉ: số B B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; người đại diện theo ủy quyền: bà Lưu Hải Y - chức vụ: Giám đốc văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, Phó Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố H. Có mặt

    - Ủy ban nhân dân xã T; Địa chỉ: thôn L, xã T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; người đại diện theo ủy quyền: ông Trần Cảnh D1 - Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T. Vắng mặt.

    - Ông Đỗ Văn H8; sinh năm 1965; địa chỉ: thôn D, xã T, thành phố H, Quảng Ninh. Có mặt.

  7. Kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Đỗ Văn H và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 09/12/2009, hộ gia đình ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T được Ủy ban nhân dân huyện H (nay là thành phố H), tỉnh Quảng Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AP 497703, mang tên hộ ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T đối với thửa đất rừng sản xuất số 342, tờ bản đồ số 02 - Bản đồ địa chính đất lâm nghiệp, tỷ lệ 1/10.000, tại thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Thời điểm cấp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hộ gia đình ông L, bà T gồm: bố mẹ ông L là cụ Đỗ Văn G, cụ Nguyễn Thị C, ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T, các con là chị Đỗ Thị H5, anh Đỗ Văn H và chị Đỗ Thị H6. Do ông L, bà T đã già, các chị em gái đã kết hôn, nên không có khả năng làm rừng vì vậy tháng 7/2020, anh H nói ông L, bà T sang tên lại diện tích rừng cho anh H để anh H tiếp tục sử dụng thì được biết năm 2013, bà T, ông L, đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất rừng cho ông Nguyễn Văn D, bà Lưu Tam H2 và bà Lưu Hải H3. Khi làm thủ tục chuyển nhượng, bà T tự ký vào hợp đồng, không có mặt của anh H cũng như các thành viên khác trong hộ gia đình, cụ thể: hợp đồng chuyển nhượng có thông tin đầy đủ và có chữ ký của anh H, chị H2, chị H5 nhưng anh H, chị H5, chị H2, không biết, không có mặt tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã T và không ký vào hợp đồng; hợp đồng có điểm chỉ (ngón trỏ phải) của cụ Nguyễn Thị C nhưng cụ C đã chết ngày 08/4/2011(Gia đình anh H đã khai tử cho cụ C ngày 16/5/2011); ông L, bà T đã bán mảnh đất rừng cho ông D, bà H2, bà H3 với giá 85.000.000 đồng, việc giao nhận tiền được lập thành 01 giấy giao nhận tiền do ông Nguyễn Văn D giữ. Tại Điều 2 của hợp đồng chuyển nhượng lại ghi giá chuyển nhượng là 150.000.000 đồng, là không đúng với giao dịch thực tế. Ông Đỗ Văn L là người không biết chữ nhưng hợp đồng, có chữ ký của ông L. Như vậy, việc chuyển nhượng đất trên đã vi phạm điều cấm của pháp luật, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xem xét yêu cầu:

  • - Tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hộ ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T với ông Nguyễn Văn D, bà Lưu Tam H2 và bà Lưu Hải H3 ngày 28/6/2013 vô hiệu.
  • - Giải quyết hậu quả pháp lý của Hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật. Buộc ông D, bà H2, bà H3 phải trả lại cho ông L, bà T quyền sử dụng diện tích đất rừng theo Hợp đồng chuyển nhượng nêu trên, gia đình ông L, bà T sẽ trả lại ông D, bà H2, bà H3 số tiền đã nhận.
  • - Hủy đăng ký biến động ngày 12/9/2013 mang tên ông Nguyễn Văn D, bà Lưu Tam H2 và bà Lưu Hải H3.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và bổ sung yêu cầu: đề nghị bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn toàn bộ tài sản trên đất.

Bị đơn ông D, bà H2, bà H3 có quan điểm: Vào đầu năm 2013, được bố là cụ Nguyễn Văn L1 cho biết thông tin vợ chồng ông L, bà T cần tiền muốn bán đất rừng nên vợ chông ông Nguyễn Văn D, bà Lưu Tam H2 và bà Lưu Hải H3 đã mua với giá thỏa thuận là 85.000.000 đồng. Khi mua, bán, hai bên có viết giấy viết tay (do bà H3 viết) và cùng đến Ủy nhân dân xã T, huyện H lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và được chứng thực ngày 28/6/2013. Tại Ủy ban nhân dân xã T, bà T là người là người trực tiếp ký tên và ký thay cho các thành viên khác trong hộ là Đỗ Văn L, Đỗ Văn H, Đỗ Thị H6, Đỗ Thị H5 còn phần điểm chỉ của cụ G và cụ C thì vợ chồng ông và bà H3 không biết do ai thực hiện. Sau đó 02 bên chuyển toàn bộ giấy tờ cho công chức địa chính để làm thủ tục, còn bản viết tay giấy chuyển nhượng đất rừng được vợ chồng ông và bà H3 cất giữ. Vợ chồng ông D, bà H6 và bà H3 đã thanh toán đủ tiền nhận chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông L, bà T số tiền 85.000.000 đồng. Tại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ghi số tiền 150.000.000 đồng là do nhầm lẫn, thời điểm đó ông không đọc nên không phát hiện được. Vợ chồng ông L, bà T đã bàn giao đất rừng cho vợ chồng ông và bà H3. Vợ chồng ông và bà H3 đã được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất xác nhận quyền sử dụng đất. Vợ chồng ông và bà H3 đã sử dụng thửa đất rừng đó trồng keo. Cuối năm 2018, vợ chồng ông và bà H3 định khai thác cây keo thì phát hiện ông Đỗ Văn H8 đã khai thác mất khoảng ½ diện tích gỗ keo, vợ chồng ông và chị H3 có đến đàm phán với ông H8 nhưng ông H8 không nghe nên năm 2019 vợ chồng ông và bà H3 đã khởi kiện vụ án ra Tòa án nhân dân huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh. Đến nay, vợ chồng ông và bà H3 vẫn giữ nguyên hiện trạng như lúc nhận chuyển nhượng, các cây thông, cây keo đến nay đã khoảng 10 năm tuổi, còn phần chỗ ông H8 đã khai thác thì ông H8 lại tiếp tục trồng cây keo trên đó.

Việc chuyển nhượng đất giữa vợ chồng ông và bà H3 với vợ chồng ông L, bà T, các thành viên trong hộ gia đình ông L, bà T tuy không ký hợp đồng nhưng theo ông các thành viên trong hộ đều biết vì lúc đó gia đình ông L, bà T đang rất cần tiền để lo việc cho con là Đỗ Văn H. Việc chuyển nhượng giữa vợ chồng ông và bà H3 với vợ chồng ông L, bà T là hoàn toàn tự nguyện, ngay tình; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận, chứng thực và đã được đăng ký biến động đất đai, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được sang tên cho vợ chồng ông và bà H3. Nếu anh H muốn kiện thì phải kiện vợ chồng ông L chứ không thể kiện vợ chồng ông và bà H3. Đối với yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý do Hợp đồng vô hiệu: trường hợp Tòa án tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông và bà H3 với vợ chồng ông L, bà T là vô hiệu, ông yêu cầu vợ chồng ông L, bà T phải trả cho vợ chồng ông và bà H3 giá trị thửa đất mà vợ chồng ông và chi H3 đã nhận chuyển nhượng theo giá thị trường tại thời điểm hiện nay; phải bồi thường cho chi phí, công sức bỏ ra để tôn tạo, tu bổ thửa đất đã nhận chuyển nhượng nói trên; phải xin lỗi vợ chồng ông và bà H3 tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long; trường hợp Tòa án tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên là vô hiệu, ông yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông L, bà T phải trả cho vợ chồng ông và bà H3 toàn bộ chi phí để làm thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ hộ gia đình ông L, bà T sang cho vợ chồng ông và bà H3; về yêu cầu tuyên hủy đăng ký biến động quyền sử dụng đất, ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông L, bà T, chị H5, chị H3 cùng có quan điểm tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn H8 có quan điểm: Phần diện tích khoảng 3.1ha mà gia đình ông được cấp Giấy chứng nhận là do ông khai phá từ năm 2001 và giáp ranh với phần diện tích đất rừng nhà ông L bà T, hai bên sử dụng từ năm 2001, có ranh giới rõ ràng và không có tranh chấp gì. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Đỗ Thị N, bà Đỗ Thị H7, ông Đỗ Thường X, bà Đỗ Thị M, bà Đỗ Thị M1 có quan điểm không có tranh chấp gì đối với phần diện tích đất của hộ gia đình ông L và bà T, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã T có quan điểm: Năm 2013, ông Vũ Thế Q là Chủ tịch UBND xã T là người chứng thực trong Hợp đồng. Việc chứng thực Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hộ gia đình ông L, bà T với ông D, bà H8, bà H3 được thực hiện tại trụ sở UBND xã T và được đại diện Ủy ban lúc đó là Chủ tịch Vũ Thế Q ký chứng thực nên việc các đương sự có trực tiếp ký, điểm chỉ vào hợp đồng hoặc Sổ công chứng, chứng thực trước mặt Chủ tịch hay không thì chỉ có ông Vũ Thế Q mới nắm được. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa 02 bên hiện nay Ủy ban xã không có hồ sơ lưu trữ. Căn cứ vào sổ khai tử hiện đang lưu trữ tại Ủy ban xã thì bà Nguyễn Thị C (sinh năm 1927) đã chết ngày 08/4/2011 trước khi Hợp đồng được xác lập nên không thể ký hoặc điểm chỉ vào Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hộ gia đình ông L, bà T với ông D, bà H8, bà H3 được. Do đó việc chứng thực Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hộ gia đình ông L, bà T với ông D, bà H8, bà H3 vào năm 2013 không được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định số: 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ. UBND xã T không có lỗi gì trong việc chứng thực vào Hợp đồng mà lỗi thuộc về 02 bên giao kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Trong trường hợp Tòa án tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/6/2013 là vô hiệu, yêu cầu Tòa án làm rõ trách nhiệm của bà Nguyễn Thị T và phải chịu trách nhiệm bồi thường.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố H có quan điểm: ông Đỗ Văn L, Nguyễn Thị T được UBND huyện H (nay là thành phố H) cấp GCNQSD đất số AP 497703, số vào sổ cấp H00145 ngày 09/12/2009 với 71.163 m² đất rừng sản xuất, thời hạn đến 09/12/2059. Ngày 28/6/2013 ông L, T, G, C, H5, H, H8 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông D, bà H8, bà H3 theo hợp đồng chuyển nhượng được UBND xã T chứng thực. Trong hợp đồng có điểm chỉ ngón trỏ của ông G và bà C. Ngày 12/9/2013 Văn phòng đăng ký quyền sư dụng đất huyện H đã xác nhận trang sau GCNQSD đất. Việc cấp giấy cho ông L và bà T và xác nhận biến động về quyền sử dụng đất đã đảm bảo theo đúng quy định. Yêu cầu của nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Người làm chứng ông Vũ Thế Q trình bày: ông Q trước đây là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T (nghỉ hưu năm 2019). Việc thực hiện quy trình chứng thực hợp đồng do công chức địa chính trực tiếp làm việc với người dân, ông chỉ là người đại diện cho Ủy ban ký lời chứng. Nếu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/6/2013 là vô hiệu thì lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về bà T.

Tại kết luận giám định số 621/KL -KTHS ngày 20/4/2022 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Chữ viết H, Đỗ Văn H trong tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết trong các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M01, M02 không phải do cùng một người viết ra. Chữ viết H8, Đỗ Thi H9 trong tài liệu so sánh ký hiệu M03, M04 không phải do cùng một người viết ra. Chữ viết H5, Đỗ Thị H5 trong tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết trong các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M05, M06, M07 không phải do cùng một người viết ra. Chữ viết dưới mục bên A trang 3/4 trong tài liệu cần giám định ký hiệu A là do cùng một người viết ra và so sánh với chữ viết trong các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M08 đến M12 là do cùng một người viết ra.

Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 02/8/2022 xác định hiện trạng thửa đất qua đo đạc bằng máy GPS do công ty T2 thực hiện, kết quả đo đạc lồng ghép với sơ đồ thửa đất có bản sơ đồ kèm theo; hiện trạng thửa đất cơ bản đúng với sơ đồ thửa đất thể hiện trong giấy CNQSD đất. Giáp ranh thửa đất: Phía bắc và đông bắc giáp với diện tích đất thuộc địa bàn xã V quản lý; phía tây bắc giáp thửa đất số 309 cấp cho hộ gia đình ông Đỗ Văn H8; phía tây nam giáp thửa đất số 353 được cấp cho gia đình ông Đỗ Văn N1, bà Đỗ Thị P; phía nam giáp thửa đất số 365 được cấp cho hộ gia đình bà Đỗ Thị H10; phía đông nam giáp thửa đất số 397 được cấp cho hộ gia đình ông Đỗ Văn T1 và bà Trần Thị H11; phía tây giáp với thửa đất số 309 có một khoảng rừng đã được khai thác gỗ và trồng lại cây keo mới.

Biên bản định giá tài sản ngày 15/6/2023 của Hội đồng định giá kết luận: Tài sản là quyền sử dụng đất 71163 m² nằm trong Giấy CNQSD đất được cấp tại thửa đất sô 342, tờ bản đồ số 02 địa chỉ thửa đất tại thôn D, xã T, huyện H (nay là thành phố H), tỉnh Quảng Ninh tên người sử dụng đất hộ ông Đỗ Văn L bà Nguyễn Thị T số 497703 cấp ngày 09/12/2009 văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Hoành Bồ xác nhận chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn D, bà Lưu Tam H2 và bà Lưu Hải H3 ngày 12/9/2013 giá trị tài sản là 426.978. 000 đồng.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 04/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tuyên xử:

  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Đỗ Văn H.
  • Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hộ gia đình ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T với ông Nguyễn Văn D, bà Lưu Tam H2, Lưu Hải H3 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện H (nay là thành phố H), tỉnh Quảng Ninh chứng thực số: 69, quyển số 01 TP/CC - SCT/HĐGD ngày 28/6/2013, vô hiệu.
  • Giao cho hộ gia đình ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T được quyền sử dụng diện tích 71.163,0 m² đất rừng sản xuất, thửa đất số 342, tờ bản đồ số 02 - BĐĐC đất lâm nghiệp, tỷ lệ 1/10.000, địa chỉ thửa đất: thôn D, xã T, huyện H (nay là thành phố H), tỉnh Quảng Ninh, theo Giấy chứng nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 497703, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H/00145/QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện H (nay là thành phố H) cấp ngày 09/12/2009 mang tên hộ ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T. Ông Nguyễn Văn D, bà Lưu Tam H2, bà Lưu Hải H3 có trách nhiệm trả lại hộ gia đình ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 497703, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H/00145/QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện H (nay là thành phố H) cấp ngày 09/12/2009 mang tên hộ gia đình ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T. Hộ gia đình ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để hiệu chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
  • Ông Đỗ Văn L và bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ thanh toán trả ông Nguyễn Văn D, bà Lưu Tam H2, bà Lưu Hải H3, số tiền 426.978.000 (bốn trăm hai mươi sáu triệu chín trăm bảy mươi tám nghìn) đồng.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 18/01/2024 nguyên đơn anh Nguyễn Văn H12 và ngày 23/01/2024 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T đều có đơn kháng cáo 1 phần bản án sơ thẩm, tuy nhiên bà T và anh H12 không nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long đã ban hành thông báo trả lại đơn kháng cáo cho bà T và anh H12.

Ngày 18/01/2024, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh ban hành kháng nghị số 01/QĐ/KNPT-VKS- DS ngày 18/01/2024 kháng nghị toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị chấp nhận 1 phần kháng nghị, sửa bản án sơ thẩm;

Ông Nguyễn Văn D có quan điểm đồng ý việc tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu và hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, đối với phần tài sản của L và bà T trong tài sản chung (tương đương 2/7) bị đơn có quan điểm không tiếp tục nhận chuyển nhượng, các bên thanh toán giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm hiện nay cho nhau đồng thời xác nhận không có tài liệu chứng cứ chứng minh cho các yêu cầu bồi thường về thanh toán tiền công cho người trông coi rừng và không có tài liệu chứng cứ về giá trị chuyển nhượng tại thời điểm hiện tại nên đồng ý với kết quả định giá của hội đồng định giá. Đối với các nội dung yêu cầu chưa có tài liệu chứng cứ chứng minh sẽ không yêu cầu tòa án giải quyết trong vụ án này nếu sau này có tài liệu chứng cứ sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác.

Đại diện viện kiểm sát có quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Về tố tụng, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Về nội dung: rút 1 phần kháng nghị, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 308, sửa bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long được thực hiện đúng trình tự, thủ tục và trong hạn luật định nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét lại bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm.

Về người tham gia tố tụng: Theo bản đồ khảo sát hiện trạng sử dụng đất và biên bản thẩm định tại chỗ ngày 02/8/2022 thể hiện ông Đỗ Văn H8 là người đang đang sử dụng 35.475m² đất rừng của thửa đất bị đơn nhận chuyển nhượng nhưng tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông H8 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là thiếu sót. Ngoài ra, tại thời điểm hộ gia đình ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T được Ủy ban nhân dân huyện H (nay là thành phố H), tỉnh Quảng Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AP 497703 đối với thửa đất rừng sản xuất số 342, tại thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Ninh thì hộ gia đình ông L, bà T gồm: bố mẹ ông L là cụ Đỗ Văn G, cụ Nguyễn Thị C, ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T, các con là chị Đỗ Thị H5, anh Đỗ Văn H và chị Đỗ Thị H6. Cụ C đã chết năm 2011, cụ G chết năm 2018, tuy nhiên cấp sơ thẩm không đưa những người trong hàng thừa kế thứ nhất của các cụ vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là thiếu sót. Cấp phúc thẩm đã khắc phục nội dung này, bổ sung người tham gia tố tụng đối với ông Đỗ Văn H8, bà Đỗ Thị N, bà Đỗ Thị H7, ông Đỗ Thường X, bà Đỗ Thị M, bà Đỗ Thị Mường . Ông H8, bà N, bà H7, ông X, bà M, bà M1 đã được giải thích quyền và nghĩa vụ tố tụng, đều đồng ý tham gia tố tụng ở cấp phúc thẩm.

Tại phiên tòa chị Đỗ Thị H5 và chị Đỗ Thị H6 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, bà Đỗ Thị N, bà Đỗ Thị H7, ông Đỗ Thường X, bà Đỗ Thị M, bà Đỗ Thị M1, chị Lưu Tam H2 và chị Lưu Hải H3 vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại khoản 3 Điều 296 BLTTDS.

[2] Xét nội dung kháng nghị:

[2.1] Về áp dụng điều luật:

Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện với nội dung “đề nghị bị đơn phải trả lại tài sản trên đất cho nguyên đơn”. Bản án tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng không áp dụng Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự là vi phạm quy định tại điểm c khoản 2 Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bản án tuyên người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông L bà T phải thanh toán cho ông D bà H2 bà H3 với giá trị tài sản là thửa đất với giá thị trường và nghĩa vụ thanh toán chi phí tố tụng của ông D, bà H2, bà H3 cho nguyên đơn tuy nhiên cấp sơ thẩm không áp dụng Điều 298 Bộ luật Dân sự 2005 về thực hiện nghĩa vụ liên đới là chưa đảm bảo quy định.

Các nội dung kháng nghị này của Viện kiểm sát là có cơ sở nên cần được chấp nhận.

[2.2] Về thiếu người tham gia tố tụng

Về việc tòa án cấp sơ thẩm xác định chưa đủ tư cách tham gia tố tụng: nội dung này đã được tòa án đã nhận định tại mục [1]. Xét thấy những thiếu sót của cấp sơ thẩm là vi phạm tố tụng tuy nhiên đã được cấp phúc thẩm khắc phục, không ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự, không phải hủy bản án theo nội dung kháng nghị của VKS nên chấp nhận nội dung một phần nội kháng nghị này của VKS về bổ sung người tham gia tố tụng.

[2.3 ] Về đánh giá chứng cứ, nhận định và nội dung tuyên án

* Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng ngày 28/6/2013 thấy gia đình ông Đỗ Văn L và bà Nguyễn Thị T chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn D, bà Lưu Tam H2, bà Lưu Hải H3 quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 342 tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp có diện tích 71.163m² là đất rừng sản xuất có nguồn gốc nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, thời hạn đến ngày 09/12/2059 với giá chuyển nhượng là 85.000.000đ; Tại thời điểm chuyển nhượng, thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có tranh chấp, vẫn trong thời hạn sử dụng đất nên theo quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 106 Luật Đất đai năm 2003 thì thửa đất trên đủ điều kiện chuyển nhượng

Về hình thức của hợp đồng: hợp đồng được lập thành văn bản, được công chứng, chứng thực theo quy định. Tuy nhiên xét trình tự thủ tục công chứng thấy: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân xã T, huyện H (nay là thành phố H), tỉnh Quảng Ninh chứng thực ngày 28/6/2013, có chữ ký, chữ viết đầy đủ họ tên của bên chuyển nhượng là hộ gia đình ông L, bà T gồm 7 thành viên (cụ Đỗ Văn G, cụ Nguyễn Thị C, ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T, anh Đỗ Văn H, chị Đỗ Thị H5, chị Đỗ Thị H6) và bên nhận chuyển nhượng là ông Nguyễn Văn D, bà Lưu Tam H2, bà Lưu Hải H3. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T đều có lời khai thống nhất về việc chỉ có bà T là người trực tiếp giao kết hợp đồng với ông D, bà H2 và bà H3; bà T là người ký toàn bộ tên, họ tên cho các thành viên khác trong hộ. Cụ Nguyễn Thị C đã chết từ năm 2011 nhưng vẫn có dấu vân tay trong hợp đồng, ông Đỗ Văn Lưu k biết chữ, anh Đỗ Văn H, chị Đỗ Thị H5 và chị Đỗ Thị H6 không được ký vào hợp đồng chuyển nhượng theo kết luận giám định số: 621/KL-KTHS ngày 20/4/2022 của phòng K Công an tỉnh Q. Như vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 11, Nghị định số 75/2000/NĐ- CP của Chính Phủ: “Việc ký, điểm chỉ của người yêu cầu công chứng, chứng thực phải được thực hiện trước mặt người thực hiện công chứng, chứng thực, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”;

Ngoài ra, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 497703, mã số vào sổ cấp GCNQSDĐ số H/00145/QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện H (nay là thành phố H) cấp ngày 09/12/2009, cho hộ gia đình ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T, là tài sản của hộ gia đình theo quy định tại khoản 2 Điều 109 Bộ luật dân sự năm 2005. Tại thời điểm cấp giấy, hộ gia đình ông L và bà T gồm: cụ Đỗ Văn G, cụ Nguyễn Thị C, ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T, chị Đỗ Thị H5, anh Đỗ Văn H và chị Đỗ Thị H6. Việc bà T tự ý định đoạt quyền sử dụng đất của hộ gia đình đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong hộ gia đình nên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 122 của Bộ luật dân sự năm 2005 nên có đủ căn cứ xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hộ gia đình ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T với ông Nguyễn Văn D, bà Lưu Tam H2, bà Lưu Hải H3, công chứng số 69, quyển số 01 TP/CC-SCT/HĐGD ngày 28/6/2013 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện H (nay là thành phố H), tỉnh Quảng Ninh là vô hiệu.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn ông Nguyễn Văn D xác định nếu phần quyền sở hữu của ông L và bà T là 2/7 diện tích đất được cấp, có đủ điều kiện chuyển nhượng thì bị đơn cũng không tiếp tục nhận chuyển nhượng phần đất trên và đồng ý với việc tuyên hợp đồng vô hiệu.

Về thực hiện hợp đồng: Sau khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bị đơn đã thanh toán cho ông L và bà T 85.000.000đ nhưng không có tài liệu chứng cứ chứng minh về việc hai bên có bàn giao đất trên thực địa về vị trí kích thước thửa đất hay không. Qua kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện ông Đỗ Văn H8 đang quản lý sử dụng phần diện tích đất là 35.475m² trong tổng diện tích 71.163 m² mà hộ gia đình ông L bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện trạng sử dụng đất của ông H8 được ngăn cách với khoảnh rừng nhà bà T bằng khe nước chảy tự nhiên, gia đình ông H8 và bà T vẫn sử dụng ổn định từ khi khai phá theo ranh giới trên và không có tranh chấp, bà T khẳng định gia đình chỉ bàn giao theo hiện trạng sử dụng nên có căn cứ khẳng định bị đơn mới chỉ được bàn giao phần diện tích là 35.688m² theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ.

Về lỗi dẫn đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hộ gia đình ông L, bà T với ông D, bà H8, bà H3 vô hiệu do lỗi chủ yếu là của bà T, ông L khi không thông báo việc chuyển nhượng đất cho các thành viên trong hộ gia đình biết và bà T đã ký thay tên các thành viên; ông D, bà H8, H3 khi ký hợp đồng chuyển nhượng thì được xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ghi tên hộ gia đình ông L bà T nhưng không thể biết được các thành viên khác trong hộ gia đình nên chỉ có phần lỗi trong việc biết bà T ký thay tên các thành viên trong hộ gia đình mà vẫn tiếp tục thực hiện hợp đồng. Hội đồng xét xử xác định tỉ lệ lỗi của các bên như sau ông L và bà T là 80%; lỗi của các bị đơn là 20%.

Đối với Ủy ban nhân dân xã T thực hiện trình tự, thủ tục khi chứng thực hợp đồng chưa phù hợp với trình tự thủ tục quy định của pháp luật.

Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Theo quy định tại Điều 137 của Bộ luật dân sự năm 2005, do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T với ông Nguyễn Văn D, bà Lưu Tam H2 và bà Lưu Hải H3 vô hiệu nên các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Ông L và bà T đã nhận tiền nên phải trả lại tiền cho bên nhận chuyển chuyển nhượng gồm tiền theo hợp đồng và giá trị chênh lệch so với thời điểm chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng phải giao trả lại cho ông L và bà T diện tích đất thực tế đã được nhận từ ông L và bà T.

Đối với diện tích đất ông Đỗ Văn H8 là người đang đang sử dụng 35.475m² do các bị đơn không được ông L, bà T giao nhận trên thực tế nên không phát sinh nghĩa vụ đối với diện tích đất này.

*Xét các nội dung kháng nghị:

Nội dung kháng nghị về việc quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Đỗ Văn H yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, không yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hợp đồng vô hiệu, cụ thể: buộc ông D, bà H8, bà H3 phải trả lại cho hộ gia đình ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T quyền sử dụng diện tích đất rừng và toàn bộ tài sản trên đất, gia đình ông L, bà T sẽ trả lại ông D, bà H8, bà H3 số tiền đã nhận 85.000.000 đồng tuy nhiên bản án tuyên ông L và bà T có nghĩa vụ thanh toán số tiền 426.978.000đ là vượt quá phạm vi khởi kiện, không đúng với quy định tại Điều 137 BLDS thấy: Nguyên đơn không yêu cầu bồi thường thiệt hại nhưng khi giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, ngoài việc các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bên có lỗi gây thiệt hại còn phải bồi thường. Việc tòa án cấp sơ thẩm tuyên ông L và bà T vượt quá số tiền 85.000.000 đồng theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không phải là vượt quá phạm vi giải quyết của vụ án, vì đây được xác định là thiệt hại thuộc phạm vi giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Đối với các yêu cầu của bị đơn về việc nếu tòa án tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, bị đơn yêu cầu vợ chồng ông L, bà T phải trả cho bị đơn giá trị thửa đất mà bị đơn đã nhận chuyển nhượng theo giá thị trường tại thời điểm hiện nay, bồi thường cho bị đơn chi phí, công sức bỏ ra để tôn tạo, tu bổ thửa đất đã nhận chuyển nhượng nói trên; phải công khai xin lỗi bị đơn tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, ông L, bà T phải trả cho vợ chồng ông và bà H3 toàn bộ chi phí để làm thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do vợ chồng ông L, bà T đã có hành vi gian dối trong việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên vẫn thuộc phạm vi giải quyết của vụ án, không phải là yêu cầu phản tố.

Ngoài số tiền 85.000.000đ ông L bà T phải trả lại cho các bị đơn là hậu quả của hợp đồng vô hiệu, cần xác định giá trị chênh lệch theo kết quả định giá là 426.978. 000 ₫ - 85.000.000 đ = 341.978.000đ là giá trị chênh lệch so với thời điểm chuyển nhượng để giải quyết thiệt hại, từ đó căn cứ trên tỷ lệ lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu để xác định nghĩa vụ bồi thường theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử đã xác định tỉ lệ lỗi của các bên như sau ông L và bà T là 80%; lỗi của các bị đơn là 20%. Theo đó, ông L và bà T nhận lại quyền sử dụng đất nên phải phải thanh toán bồi thường cho các bị đơn số tiền là 273.582.400₫ tương đương 80% thiệt hại; các bị đơn phải chịu thiệt hại số tiền là 68.395.600₫ tương đương 20%.

Như vậy, ông lưu, bà T phải thanh toán cho các bị đơn số tiền 273.582.400₫ + 85.000.000₫ = 358.582.400₫.

Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng, các bên không tiến hành bàn giao đất trên thực địa, cắm mốc để xác định ranh giới mốc giới, trên thực tế ông H8 đang quản lý phần diện tích 35.475m², nên xác định các bị đơn chỉ được bàn giao phần diện tích 35.688m² nên khi giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu chỉ có căn cứ để buộc ông D bà H8 và bà H3 phải trả lại cho hộ gia đình ông L bà T phần diện tích đang quản lý sử dụng là 35.688m².

Đối với nội dung kháng nghị về việc cấp sơ thẩm không tiến hành định giá đối với tài sản trên đất là chưa giải quyết toàn diện nội dung vụ án: như đã phân tích ở phần trên, xác định hợp đồng chuyển nhượng giữa các bên là vô hiệu nên các bên có nghĩa vụ hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn có quan điểm xác nhận hiện trạng rừng vẫn như lúc nhận chuyển nhượng, diện tích keo trồng trên đất do vợ chồng bà T trồng trước thời điểm chuyển nhượng, bị đơn không trồng cây mới mà chỉ có công trông coi tài sản. Do vậy, khi các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận bao gồm cả tài sản gắn liền với đất vì vậy không cần thiết phải định giá tài sản trên đất do không có yêu cầu bồi thường thiệt hại do hợp đồng vô hiệu.

Tại phiên tòa Đại diện viện kiểm sát rút các nội dung kháng nghị “Lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu bản án nhận định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hộ gia đình bà T ông L và ông D, bà H8, bà H3 là vô hiệu do lỗi của cả bên chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng và Ủy ban nhân xã T có 1 phần lỗi nhưng chỉ buộc ông L và bà T trả lại tiền cho bị đơn là chưa đảm bảo quyền lợi của đương sự……” và nội dung “tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện, đề nghị HĐXX buộc bị đơn phải trả lại toàn bộ tài sản trên đất nhưng bản án không đề cập là chưa giải quyết hết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vi phạm Điều 266 Bộ luật TTDS” nên không HĐXX không xem xét.

Nội dung kháng nghị về chứng minh cho yêu cầu nguyên đơn phải bồi thường chi phí, công sức bỏ ra tôn tạo, tu bổ thửa đất, bị đơn đã cung cấp các tài liệu về trông coi đất, chăm sóc cây trồng trên đất, tiền chi phí để thực hiện chuyển đổi quyền sử dụng đất nhưng bản án lại nhận định bị đơn không cung cấp các tài liệu chứng minh dẫn đến việc HĐXX không giải quyết là không đúng, không giải quyết toàn diện vụ án, vi phạm Điều 266 Bộ luật TTDS: Nội dung kháng nghị là có căn cứ nên chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát.

Đối với nội dung kháng nghị bản án tuyên hộ gia đình ông L và bà T được quyền sử dụng diện tích 71.163m² đất rừng sản xuất thuộc thửa đất số 342 tờ bản đồ số 02 nhưng không giao tài sản gắn liền với đất là không đầy đủ, không đảm bảo quyền lợi của đương sự là có căn cứ nên được chấp nhận.

Nội dung kháng nghị: bản án số 11/2019/DS-ST ngày 27/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hoành Bồ giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Văn D, bà Lưu Tam H2, bà Lưu Hải H3 và bị đơn là ông Đỗ Văn H8 đã tuyên ông H8 phải trả lại cho ông D, bà H8, bà H3 35.967,4m² đất thuộc thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 497703, ông D, bà H8, bà H3 được quyền sở hữu toàn bộ cây keo đang trồng trên diện tích đất này. Tuy nhiên, bản án trên đã bị hủy theo quyết định của bản án số 32/2024/DS-PT ngày 24/4/2024 do có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng do vậy sẽ không còn chồng chéo với quyết định của Bản án số 02/2024/DS-ST ngày 04/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hạ Long như nội dung kháng nghị.

Ngoài ra bản án sơ thẩm tuyên “Giao cho hộ gia đình ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T được quyền sử dụng diện tích 71.163,0 m² đất rừng sản xuất...” là không đúng thẩm quyền giải quyết của tòa án. Cấp phúc thẩm chấp nhận nội dung kháng nghị này của viện kiểm sát.

Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Viện kiểm sát đề nghị tạm ngừng phiên tòa để thu thập tài liệu chứng cứ nhưng HĐXX không chấp nhận nên đại diện VKS không phát biểu về nội dung giải quyết vụ án nhưng bản án thể hiện kiểm sát viên không có ý kiến chưa chính xác. Cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm đối với nội dung này.

Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy đăng ký biến động quyền sử dụng đất từ hộ gia đình ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T sang ông Nguyễn Văn D, bà Lưu Tam H2 và bà Lưu Hải H3, được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện H (nay là Ủy ban nhân dân thành phố H) xác nhận ngày 12/9/2013: đây không phải là quyết định cá biệt nên HĐXX không xem xét giải quyết

Từ những nhận định trên, HĐXX có đủ cơ sở chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát và sửa bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[3] Về án phí:

Án phí sơ thẩm: ông Nguyễn Văn D, bà Lưu Tam H2 và bà Lưu Hải H3, ông Đỗ Văn L và bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Án phí phúc thẩm: căn cứ điểm d khoản 1 Điều 11 Nghị quyết 326 thì Viện kiểm sát kháng nghị bản án không phải nộp và không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308, 309, Điều 313, khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng Dân sự, chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 04/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 109; Điều 121; Điều 122; Điều 124; Điều 127; Điều 136; Điều 137; Điều 214, Điều 244, Điều 298, Điều 697 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 106; Điều 127 và Điều 146 của Luật đất đai năm 2003; Điều 27, Điều 28 và Điều 33 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Khoản 2 Điều 26, điểm b khoản 3 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Đỗ Văn H đối với bị đơn ông Nguyễn Văn D, bà Lưu Tam H2, Lưu Hải H3 về việc tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu.
  2. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T cùng ông Đỗ Văn G, bà Nguyễn Thị C, chị Đỗ Thị H5, anh Đỗ Văn H, chị Đỗ Thị H6 với ông Nguyễn Văn D, bà Lưu Tam H2, Lưu Hải H3 đối với quyền sử dụng đất rừng sản xuất diện tích 71.163,0m² địa chỉ tại thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 497703, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H/00145/QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện H (nay là thành phố H) cấp ngày 09/12/2009 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện H (nay là thành phố H), tỉnh Quảng Ninh chứng thực số: 69, quyển số 01 TP/CC - SCT/HĐGD ngày 28/6/2013 vô hiệu.

    Ông Nguyễn Văn D, bà Lưu Tam H2, bà Lưu Hải H3 có nghĩa vụ trả lại cho hộ gia đình ông bà Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T diện tích đất rừng sản xuất 35.688 m² và tài sản trên đất thuộc thửa đất số 342, tờ bản đồ số 02 - BĐĐC đất lâm nghiệp, tỷ lệ 1/10.000, địa chỉ thửa đất: thôn D, xã T, huyện H (nay là thành phố H), tỉnh Quảng Ninh, theo Giấy chứng nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 497703, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H/00145/QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện H (nay là thành phố H) cấp ngày 09/12/2009 thuộc quyền sử dụng đất của hộ ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T (đã đăng ký biến động sang tên Ông Nguyễn Văn D, bà Lưu Tam H2, bà Lưu Hải H3) được thể hiện tại sơ đồ hiện trạng kèm theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 02/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long được giới hạn bởi các điểm (A,B,1,2,3,A).

    (Vị trí, kích thước, diện tích đất và tài sản trên đất có sơ đồ kèm theo bản án)

    Ông Nguyễn Văn D, bà Lưu Tam H2, bà Lưu Hải H3 có trách nhiệm trả lại cho ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 497703, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H/00145/QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện H (nay là thành phố H) cấp ngày 09/12/2009 mang tên hộ gia đình ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T.

    Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký biến động đối với quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

    Ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông Nguyễn Văn D, bà Lưu Tam H2, bà Lưu Hải H3 tổng số tiền là 358.582.400đ (ba trăm năm mươi tám triệu, năm trăm tám mươi hai nghìn, bốn trăm đồng).

    Tương ứng, ông L và bà T phải thanh toán cho ông Nguyễn Văn D, bà Lưu Tam H2, bà Lưu Hải H3 mỗi người với số tiền 119.527.467đ (một trăm mười chín triệu, năm trăm hai mươi bảy nghìn, bốn trăm sáu mươi bảy đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Nguyễn Văn D, bà Lưu Tam H2, bà Lưu Hải H3 cho đến khi thi hành án xong, ông Đỗ Văn L và bà Nguyễn Thị T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  3. Về chi phí tố tụng: các bị đơn ông Nguyễn Văn D, bà Lưu Tam H2 và bà Lưu Hải H3 phải thanh toán cho anh Đỗ Văn H chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, giám định chữ ký là 17.600.000 đồng. Trong đó ông D và bà H2 phải liên đới thanh toán số tiền là 11.733.000đ (mười một triệu, bảy trăm ba mươi ba nghìn đồng); bà Lưu Hải H3 phải thanh toán số tiền là 5.867.000₫ (năm triệu tám trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).
  4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của anh Đỗ Văn H cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Văn D, bà Lưu Tam H2, bà Lưu Hải H3 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  5. Về án phí dân sự:
  6. *Về án phí dân sự sơ thẩm:

    -Bị đơn ông Nguyễn Văn D, bà Lưu Tam H2 có nghĩa vụ liên đới chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn bà Lưu Hải H3 có nghĩa vụ chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm

    -Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn L và bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ liên đới chịu 17.929.120đ (mười bảy triệu chín trăm hai mươi chín nghìn một trăm hai mươi đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    -Trả lại cho anh Đỗ Văn H số tiền 2.425.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002528 ngày 17/8/2020 và số 0000036 ngày 04/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

    *Về án phí dân sự phúc thẩm: Đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND thành phố Hạ Long;
  • - THA, VP;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Duy Ước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/DS-PT ngày 31/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 41/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger