Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀ CÚ

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31/5/2024

V/v: tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Truyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Diệp Chanh Tha và bà Phước Thị Kim Huê

- Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Bô Na, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Đoàn Tố Quyên, Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 88/2024/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 3 năm 2024, về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 47/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 08/5/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lý Thị H, sinh năm 1986. Địa chỉ ấp X, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.

2. Bị đơn: Ông Trần Minh H1, sinh năm 1988. Địa chỉ ấp X, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Nơi công tác Trường Tiểu học L, đóng trên địa bàn xã L, huyện T, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11/3/2024, nguyên đơn bà Lý Thị H trình bày: Năm 2010 bà và ông Trần Minh H1 quen biết nhau và tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N ngày 16/3/2011. Quá trình chung sống hạnh phúc và có 02 con chung tên Trần Thị Yến V, sinh ngày 11/10/2011 và Trần Thị Yến V1, sinh ngày 05/11/2016, hiện hai con chung đang sống với bà. Về tài sản chung, nợ chung không có. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến tháng 02 năm 2024 thì xảy ra mâu thuẫn gia đình không thể hàn gắn được, nguyên nhân do vợ chồng không cùng quan điểm khi bàn bạc về cuộc sống gia đình, thường xuyên cự cãi, không ai quan tâm đến ai, ông Trần Minh H1 bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống. Nguyên đơn bà ông Lý Thị H yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Minh H1. Về con chung bà H yêu cầu được quyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung và không yêu cầu ông Trần Minh H1 phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn ông Trần Minh H1 đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhận giấy triệu tập tham gia phiên tòa xét xử vụ án hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không gửi ý kiến cho Tòa án về yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị H.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

* Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án; Thành phần Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa có tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn bà H2 thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Trần Minh H1 cố ý vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng là chưa chấp hành đúng quy định về nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

* Về nội dung vụ án: Nguyên đơn bà Lý Thị H, bị đơn ông Trần Minh H1 xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T vào ngày 16/3/2011 nên hôn nhân giữa bà H và ông H1 là hợp pháp. Kết quả thu thập chứng cứ, xác minh nguyên nhân mâu thuẫn của Tòa án có căn cứ cho thấy hôn nhân của bà H và ông H1 lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân có duy trì cũng không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 và các điều 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các điều 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Thị H, cho bà Lý Thị H được ly hôn với ông Trần Minh H1. Giao cho bà Lý Thị H được quyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung tên Trần Thị Yến V, sinh ngày 11/10/2011 và Trần Thị Yến V1, sinh ngày 05/11/2016, bà H không yêu cầu ông Trần Minh H1 cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết. Về án phí đề nghị buộc bà H phải chịu 300.00 đồng theo quy định của pháp luật.

Kiến nghị khắc phục vi phạm: Không

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Bị đơn ông Trần Minh H1 đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; đã được triệu tập tham gia phiên tòa xét xử vụ án hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn cố tình vắng mặt tại phiên tòa mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2025, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các bên đương sự.

[2] Nguyên đơn bà Lý Thị H, bị đơn ông Trần Minh H1 xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T vào ngày 16/3/2011 theo đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa bà H và ông H1 là hợp pháp và phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Nguyên đơn bà H trình bày cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến tháng 02 năm 2024 thì xảy ra mâu thuẫn gia đình không thể hàn gắn được, nguyên nhân do vợ chồng không cùng quan điểm khi bàn bạc về cuộc sống gia đình, thường xuyên cự cãi, không ai quan tâm đến ai, ông Trần Minh H1 bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống. Kết quả xác minh của Tòa án thể hiện giữa bà H và ông H1 có xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân nhau là có thật. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo cho ông H1 biết tham gia các phiên hòa giải, kể cả tham gia phiên tòa xét xử vụ án để Tòa án hòa giải, tạo điều kiện cho bà H và ông H1 sửa chữa, khắc phục các mâu thuẫn trong cuộc sống gia đình, để xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và cùng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung nhưng không có kết quả, bà H cương quyết ly hôn, ông H1 thì cố tình vắng mặt và không gửi ý kiến phản đối. Xét thấy hôn nhân của bà H và ông H1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân có duy trì cũng không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông H1 theo yêu cầu của một bên.

[3] Theo các giấy khai sinh do bà H cung cấp, có đủ chứng cứ chứng minh giữa bà H với ông Trần Minh H1 có 02 con chung tên Trần Thị Yến V, sinh ngày 11/10/2011 và Trần Thị Yến V1, sinh ngày 05/11/2016; hiện tại 02 cháu hiện đang chung sống với bà H. Do ông H1 không có ý kiến tranh chấp với bà H về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; nguyện vọng của cháu V, cháu V1 muốn được sống chung với bà H nên cần giao cho bà H được quyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung; bà H không yêu cầu ông Trần Minh H1 cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung bà H trình bày không có nên không xem xét. Nếu giữa ông H1 với bà H có tranh chấp về tài sản chung hoặc có phát sinh nghĩa vụ nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.

[5] Quan điểm phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Nguyên đơn ông Lý Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị đơn ông Trần Minh H1 không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 và các điều 147, 207, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ các điều 5, 9, 54, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Thị H. Cho bà Lý Thị H được ly hôn với ông Trần Minh H1.
  2. Giao cho bà Lý Thị H được quyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung tên Trần Thị Yến V, sinh ngày 11/10/2011 và Trần Thị Yến V1, sinh ngày 05/11/2016. Bị đơn ông Trần Minh H1 không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  3. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết. Nếu giữa ông Trần Minh H1 với bà Lý Thị H có tranh chấp về tài sản chung hoặc có phát sinh nghĩa vụ nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
  4. Buộc ông Lý Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Lý Thị H đã nộp bằng 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001768 ngày 13/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trà Cú. Bị đơn ông Trần Minh H1 không phải chịu án phí.
  5. Quyền kháng cáo: Bà Lý Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông Trần Minh H1 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND huyện Trà Cú;
  • - CCTHADS huyện Trà Cú;
  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - UBND xã Ngãi Xuyên;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Truyền

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phước Thị Kim Huê

Diệp Chanh Tha

Nguyễn Văn Truyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 41/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn Hiền- hải
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger