Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUYÊN HÓA

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2023/HS-ST

Ngày 30/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Hữu Tình
  • Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Xuân Thuận và bà Đinh Thị Hương
  • Thư ký phiên tòa: ông Đinh Quang Vịnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa tham gia phiên tòa:

  • ông Đinh Kiên Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2023/QĐXXST-HS ngày 16/11/2023 đối với các bị cáo:

1. Đặng Anh T, sinh ngày 03 tháng 5 năm 1989 tại huyện T, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn U, xã C, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị B; vợ, con; chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: năm 2006 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T quyết định xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, ngày 20/4/2007 chấp hành xong quyết định; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 01/8/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Phan Xuân H1, sinh ngày 24 tháng 5 năm 1986 tại huyện T, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn K, xã C, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Xuân T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; vợ: Nguyễn Thị H2, con: có ba người, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 01/8/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1991, địa chỉ: thôn K, xã C, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt

- Người làm chứng: anh Hoàng Anh T2, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 01/8/2023, Đặng Anh T, sinh năm 1989, trú tại thôn U, xã C, huyện T, tỉnh Quảng Bình chơi tại nhà của Phan Xuân H1, sinh năm 1986, trú tại thôn K, xã C, huyện T. Trong lúc ngồi chơi, T rủ H1 góp tiền đi mua ma túy về sử dụng, Hòa đồng ý. Sau đó H1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 73D1 - 259.75 chở T đi mua ma túy. Trên đường đi, H1 đưa cho T số tiền 500.000 đồng để mua ma túy. Khi đến cổng chào thôn L, xã C, huyện T, tỉnh Quảng Bình, T sử dụng điện thoại di động số 0914.650.xxx gọi điện tới số điện thoại 0816.346.xxx, gặp một người đàn ông tên T, để hỏi mua ma túy, người đàn ông này đồng ý bán và chỉ đường đi tới phía sau nhà nghỉ A, ở xã T, huyện T. Khi đến địa điểm trên, H1 dừng xe đứng phía trước chờ, còn Đặng Anh T đi ra phía sau nhà nghỉ Anh L1 gặp và mua của người đàn ông tên T 07 viên ma túy loại hồng phiến, đựng trong một gói nilon màu hồng với giá 500.000 đồng. Đặng Anh T cất số ma túy trên vào túi quần phía trước, bên phải rồi đi ra đường gọi H1 đến đón quay về. Khi đến đoạn đường liên thôn thuộc địa phận thôn L, xã C, thì bị tổ công tác Công an huyện T bắt quả tang, thu giữ tang vật là 07 viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược, cùng các vật chứng liên quan.

Tại Bản kết luận giám định số 805/KL-KTHS ngày 08/8/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh Q, kết luận: 07 viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược thu giữ từ Đặng Anh T gửi trưng cầu giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,652 gam. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu giữ:

  • - 07 viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng là 0,652 gam. Sau khi lấy mẫu vật phục vụ công tác giám định, số ma túy còn lại là 0,535 gam, cùng vỏ bao gói được niêm phong trong phong bì thư dán kín, ghi số “805/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại IPHONE XSMAX, màu vàng, gắn thẻ sim số 0914650568, điện thoại đã qua sử dụng. Thu giữ của Đặng Anh T.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, gắn thẻ sim số 0814240586 và sim số 0379313112, điện thoại đã qua sử dụng. Thu giữ của Phan Xuân H1.
  • - 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, số loại AIRBLADE, màu sơn Xanh - Xám - Đen, biển kiểm soát 73D1 - 25975, xe đã qua sử dụng. Thu giữ của Phan Xuân H1.

Tại Bản cáo trạng số 39/CT-VKSTH-HS ngày 25/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình đã truy tố các bị cáo Đặng Anh TPhan Xuân H1 về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng. Đã xem xét đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của từng bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Anh T từ 13 đến 15 tháng tù; xử phạt bị cáo Phan Xuân H1 từ 13 đến 15 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư ghi số “805/KL-KTHS” bên trong có chất ma túy và vỏ bao gói; tịch thu sung quỹ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại IPHONE XSMAX, màu vàng, gắn thẻ sim số 0914650568, điện thoại đã qua sử dụng, thu của Đặng Anh T. Trả lại cho Phan Xuân H1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, gắn thẻ sim số 0814240586 và sim số 0379313112, điện thoại đã qua sử dụng. Trả lại cho chị Nguyễn Thị H2 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, số loại AIRBLADE, màu sơn Xanh - Xám - Đen, biển kiểm soát 73D1 - 25975, xe đã qua sử dụng.

Tại phiên toà các bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình về tội danh, Điều, khoản và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo Đặng Anh TPhan Xuân H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng. Vì nghiện ma túy nên vào ngày 01/8/2023, Đặng Anh T đã rủ Phan Xuân H1 góp tiền mua ma túy về sử dụng. Sau đó Đặng Anh T đã gọi điện thoại liên lạc với một người đàn ông tên T đặt vấn đề mua ma túy và người đó đồng ý. H1 và T đi đến xã T gặp và mua của người đàn ông tên T 07 viên ma túy loại hồng phiến với giá 500.000 đồng, nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập và được thẩm tra tại phiên toà. Mặc dù nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn mua ma túy về để sử dụng. Số ma tuý mà các bị cáo tàng trữ có khối lượng 0,652 gam. Trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ về thời gian, địa điểm, khối lượng chất ma tuý, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định các bị cáo Đặng Anh TPhan Xuân H1 phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa và luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa đối với các bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của các bị cáo Đặng Anh TPhan Xuân H1 đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với các loại chất ma tuý. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội cần được xử lý nghiêm. Vì vậy căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự quyết định đối với các bị cáo một mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, nhằm đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Xét tính chất đồng phạm: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của hai bị cáo là đồng phạm giản đơn, không có sự tổ chức, phân công nhiệm vụ cho từng bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, tuy nhiên bị cáo Đặng Anh T có nhân thân xấu. Năm 2006 T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T quyết định xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, ngày 20/4/2007 chấp hành xong quyết định, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội do mình gây ra. Vì vậy cần áp dụng điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo theo mức độ mà mỗi bị cáo được hưởng.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy loại Methamphetamine mà các bị cáo tàng trữ đã bị thu giữ, sau khi giám định đã được Phòng K Công an tỉnh Q niêm phong cùng với vỏ bao gói là vật cấm lưu hành và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại IPHONE XSMAX, màu vàng, gắn thẻ sim số 0914650568, điện thoại đã qua sử dụng, thu giữ của Đặng Anh T đây là phương tiện mà bị cáo Đặng Anh T khai và thừa nhận đã dùng liên lạc với người bán ma túy để mua, nên cần áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy và tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, gắn thẻ sim số 0814240586 và sim số 0379313112, điện thoại đã qua sử dụng, thu giữ của Phan Xuân H1 không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, số loại AIRBLADE, màu sơn Xanh - Xám - Đen, biển kiểm soát 73D1 - 25975, mà bị cáo H1 sử dụng để chở T đi mua ma túy, tuy nhiên xét thấy đây là tài sản chung của vợ chồng bị cáo H1 và vợ là chị Nguyễn Thị H2, việc bị cáo H1 sử dụng làm phương tiện phạm tội, chị H2 hoàn toàn không biết. Vì vậy cần áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại điện thoại cho bị cáo H1 và trả lại 01 xe mô tô cho chị H2 đại diện chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp.

[6] Về nguồn gốc số ma túy, Đặng Anh T khai nhận vào ngày 01/8/2023 đã mua của một người đàn ông tên T. Quá trình điều tra xác định người đàn ông theo lời khai của Đặng Anh THoàng Anh T2, sinh năm 1985, ở thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Tuy nhiên quá trình điều tra không đủ tài liệu, chứng cứ để xử lý hình sự đối với Hoàng Anh T2.

[7] Về án phí: Các bị cáo Đặng Anh TPhan Xuân H1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đặng Anh TPhan Xuân H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:

    Xử phạt bị cáo Đặng Anh T 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 01/8/2023).

    Xử phạt bị cáo Phan Xuân H1 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 01/8/2023).

    Tiếp tục tạm giam các bị cáo Đặng Anh TPhan Xuân H1 với thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo cho việc thi hành án, theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.

  3. Về xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư ghi số “805/KL-KTHS” được niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong có chất ma túy và vỏ bao gói.
    • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước giá trị 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại IPHONE XSMAX, màu vàng, gắn thẻ sim số 0914650568, điện thoại đã qua sử dụng.
    • - Trả lại cho Phan Xuân H1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, gắn thẻ sim số 0814240586 và sim số 0379313112, điện thoại đã qua sử dụng.
    • - Trả lại cho chị Nguyễn Thị H2 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, số loại AIRBLADE, màu sơn Xanh - Xám - Đen, biển kiểm soát 73D1 - 25975.

    Vật chứng được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa có đặc điểm mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án án dân sự huyện T.

  4. Về án phí: Buộc các bị cáo Đặng Anh TPhan Xuân H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.

Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/11/2023)./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - CA huyện Tuyên Hóa;
  • - VKSND huyện Tuyên Hóa;
  • - THADS huyện Tuyên Hóa;
  • - Bị cáo; Người TGTT;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

(đã ký)

Phạm Hữu Tình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 41/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án: Đặng Anh T; Phan Xuân H - Can tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger