Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN TRƯỜNG

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số:41/2024/HS-ST

Ngày: 30-5-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long.

Các hội thẩm nhân dân:

  • Ông Vũ Xuân Thuỳ;
  • Ông Lê Văn Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Đặng Xuân Tự - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 38/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Xuân H (Phạm Văn H1), sinh ngày: 01/3/1976, nơi sinh: xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: xóm B, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn X và con bà Mai Thị H2; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị K và có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 27/02/2008, bị Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 23 tháng 05 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chấp hành xong hình phạt tù trả tự do tại phiên toà.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 20/01/2024 đến ngày 29/01/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Tại phiên tòa bị cáo có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Phạm Huy H3; vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 40 phút ngày 20/01/2024, Phạm Xuân H (tên gọi khác là Phạm Văn H1) một mình đi bộ từ nhà ở xóm B, xã X, huyện X đến khu vực xã X, huyện X để tìm mua ma tuý sử dụng cho bản thân. Khi đến xóm A, xã X, H1 gặp một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ. Qua dò hỏi biết người này có ma tuý bán, H1 hỏi mua 200.000 đồng Heroine, người đàn ông đồng ý, nhận tiền rồi đưa lại cho H1 01 gói nhỏ, bên ngoài dán băng dính màu trắng quấn quanh túi nilon, bên trong là lớp giấy chứa chất bột dạng cục màu trắng. H1 xác định là H4, cất vào túi quần bên phải rồi đi bộ tìm nơi sử dụng. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, khi H1 đang đi trên đường thuộc xóm A, xã X thì bị Tổ công tác Công an xã X phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra. H1 tự giác giao nộp 01 gói nhỏ vừa mua. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, lập biên bản bắt người phạm tội quả tàng và thu giữ 01 gói nhỏ H1 nộp. Sau đó, Tổ công tác đã bàn giao Hoà cùng vật chứng cho Cơ quan CSĐT Công an huyện X để điều tra theo thẩm quyền.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Xuân H nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Kết quả xét nghiệm định tính Morphin ngày 20/01/2024 của Trung tâm y tế huyện X xác định: Phạm Xuân H dương tính với M.

Ngày 22/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện X đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với mẫu vật thu giữ. Tại bản kết luận giám định số 375/KL-KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói nhỏ trong phong bì thư được niêm phong gửi giám định là ma tuý. Loại ma tuý: Heroine. Khối lượng: M 0,315 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Xuân H đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên.

Cáo trạng số 36/CT-VKSXT, ngày 03/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo Phạm Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường luận tội, đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh và hình phạt chính: Căn cứ vào điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự;

- Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Phạm Xuân H từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 375/KL-KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N; (M: 0.280gam H).

Bị cáo không tự bào chữa, tranh luận gì.

Trong lời nói sau cùng bị cáo tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, kết hợp với kết luận giám định về số ma túy thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 20/01/2024, tại khu vực xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định, Phạm Xuân H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,315 gam Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Vì vậy, hành vi của Phạm Xuân H đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất gây nghiện, tiếp tay cho tệ nạn mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý, một hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm như: Trộm cắp tài sản, cướp tài sản..., làm tan vỡ hạnh phúc bao gia đình. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội; là người nghiện ma túy nên bị cáo đã thấu hiểu được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của pháp luật hình sự để răn đe và phòng ngừa.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ hành vi cũng như theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về xử lý vật chứng thu giữ: Số ma túy đã thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

[8] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo H, bị cáo H khai không biết tên, tuổi, địa chỉ ngoài ra không còn nguồn tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra Công an huyện X không đủ căn cứ để xử lý là phù hợp.

[9] Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân H (Phạm Văn H1) đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;

Xử phạt bị cáo Phạm Xuân H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 20/01/2024.

2. Xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy số ma túy trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 375/KL-KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N; (M: 0.280gam H).

(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 65/CCTHA ngày 27/5/2024 giữa Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).

3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 cùng Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Bị cáo Phạm Xuân H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh, huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Công an huyện;
  • - UBND xã;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger