TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2024/HS-ST
Ngày 29 - 08 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Lê Lương Anh.
Các hội thẩm nhân dân: bà Đoàn Thị Thuý và bà Lò Thị Quỳnh.
Thư ký phiên toà: ông Đỗ Anh Tú - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: bà Lê Thị Mai Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 2 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2024/TLST – HS, ngày 02/02/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST - HS, ngày 16/02/2024 đối với bị cáo:
- - Trần Thị Mai H (tên gọi khác: Trần Thị H), sinh ngày 15 tháng 5 năm 1962 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12. Nơi cư trú: tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La; Nơi tạm trú: bản C, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Trần Đ (đã chết) và con bà Đỗ Thị K, sinh năm 1938, có chồng là Hà Thanh B, sinh năm 1960 và có hai con, con lớn sinh năm 1987, con nhỏ sinh năm 1989; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam, tạm giữ từ ngày 09/9/2023 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- - Người bị hại: bà Phạm Thị D, sinh năm 1969; trú tại Tiểu khu F, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
- anh Trần Mạnh C, sinh năm 1986; trú tại Tiểu khu A, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa.
- bà Đào Thị M, sinh năm 1965; trú tại Tổ E, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2012, bà Phạm Thị D, sinh năm 1969, (trú tại: Tiểu khu F, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Sơn La) nhờ anh Trần Mạnh C, sinh năm 1986 (trú tại Tiểu khu A, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Sơn La) tìm hiểu, hướng dẫn thủ tục xin cho con trai bà D là anh Đào Văn V, sinh năm 1992 vào công tác trong ngành Công an. Anh C nhờ bà Đào Thị M, sinh năm 1965 (trú tại: Tổ E, phường C, thành phố S) hỏi về nội dung xin việc vào ngành Công an. Thấy bị cáo Trần Thị Mai H có con đang làm Công an nên bà M đã gặp, nhờ H hướng dẫn xin việc cho người nhà vào công tác trong ngành Công an. H đã thông báo cho bà M nội dung chuẩn bị hồ sơ và số tiền 300.000.000 đồng là chi phí xin việc, bà M nói lại cho anh C biết. Anh C đã báo lại cho bà D thì bà D đồng ý và đưa trước 150.000.000 đồng cho anh C cùng hồ sơ xin việc của anh V. Sau đó, anh C đến nhà đưa hồ sơ xin việc của anh V cùng số tiền 150.000.000 đồng cho H, số tiền 150.000.000 đồng còn lại hẹn sẽ đưa sau. Đến đầu năm 2013. Do anh V chưa được vào ngành Công an làm việc nên anh C cùng bà D đến nhà H đòi lại tiền thì H nói với bà D rằng đợi thêm một thời gian nữa H sẽ xin được, nếu không được thì H sẽ trả lại tiền. Sau đó, H nói với bà D chuẩn bị thêm 150.000.000 đồng để xin việc cho anh V vì tổng chi phí để xin cho anh V vào ngành Công an hết 300.000.000 đồng. Ngày 11/4/2013, bà D đến Ngân hàng N - Chi nhánh huyện Y, tỉnh Sơn La chuyển số tiền 100.000.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng N số 7901215000327 của H. Đến ngày 11/5/2013, bà D đến nhà và đưa cho H số tiền mặt là 50.000.000 đồng. Tổng số tiền 300.000.000 đồng trên, H đã sử dụng, chi tiêu cá nhân hết.
Bà D thấy H không xin được việc cho anh V nên đã yêu cầu H trả lại tiền. Đến ngày 24/5/2017, bà D Đã trình báo sự việc với Cơ quan Công an, trong quá trình đó bị cáo H đã trả cho bà Duyên số tiền 12.000000₫ (Mười hai triệu đồng) nhưng do thời gian đã lâu nên bà D không nhớ rõ thời điểm cụ thể.
Tổng số tiền bị cáo H chiếm đoạt của bị hại bà D là 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng). Bị cáo H đã trả lại cho bà Duyên số tiền 12.000000₫ (Mười hai triệu đồng). Bà D yêu cầu bị can tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 288.000.000₫ (Hai trăm tám mươi tám triệu đồng).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Thị Mai H khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:
Năm 2012, bà Đào Thị M đến gặp, nhờ bị cáo H hướng dẫn thủ tục xin cho anh Đào Văn V vào công tác tại ngành Công an. Sau khi trao đổi với bà M, H đến gặp ông Nguyễn Khắc B1, sinh năm 1959, cư trú tại khu đô thị Đ, huyện G, thành phố Hà Nội (thời điểm đó ông B1 đang công tác tại Tiểu đoàn Cảnh sát cơ động thuộc T1 - Bộ C1 đóng quân tại xã C, huyện M, tỉnh Sơn La) đặt vấn đề xin cho người nhà vào ngành Công an.
Một thời gian ngắn sau (H không nhớ thời gian cụ thể), ông B1 gọi điện nói sẽ xin được cho người nhà H vào ngành Công an, đồng thời yêu cầu chuẩn bị 01 bộ hồ sơ xin việc cùng chi phí xin việc là 300.000.000 đồng. H đã nói lại nội dung yêu cầu trên cho bà M biết, bà M thông báo lại cho anh C, anh C đã trao đổi lại với bà D. Sau đó, anh C cùng bà M đến nhà H đưa hồ sơ xin việc của V và số tiền 150.000.000 đồng, hẹn số tiền còn lại sẽ chuyển sau. Sau khi nhận tiền và hồ sơ, H đã đưa lại toàn bộ cho ông B1. Đến đầu năm 2013, do V chưa được vào ngành Công an làm việc nên anh C cùng bà D đến nhà H đòi lại tiền thì H nói với bà D rằng đợi thêm một thời gian nữa H sẽ xin được, nếu không được thì H sẽ trả lại tiền. Khoảng 02 tháng sau, do không xin được cho V nên ông B1 đã trả lại cho H số tiền 150.000.000 đồng và hồ sơ xin việc của V. H gọi điện thông báo với bà D về việc chưa giúp được và chủ động nói với bà D sẽ liên hộ nhờ người khác, bà D đồng ý.
H đã liên hệ và gặp một người tên L (là bạn của H, sinh sống ở Hà Nội, H không biết họ tên, địa chỉ chính xác) cùng một người nam giới tên P (H không biết tên, tuổi, địa chỉ của P; chỉ biết P mặc quần áo cảnh sát, đeo cấp bậc hàm Trung tá) ở một quán cà phê ở khu vực Hồ T, thành phố Hà Nội để nhờ xin cho V vào ngành Công an, khi đó P đồng ý và nói sẽ liên hệ lại sau. Khoảng 02 tuần sau, theo yêu cầu của L, H đã gặp P và L tại khu V, thành phố Hà Nội và đưa cho P hồ sơ xin việc của V. P yêu cầu H chuẩn bị số tiền 300.000.000 đồng chi phí xin cho V vào ngành Công an. Sau đó H đã nói lại với bà D chuẩn bị thêm 150.000.000 đồng để xin việc cho V vì tổng chi phí là 300.000.000 đồng, bà D đồng ý. Ngày 11/4/2013, bà D chuyển khoản cho H số tiền 100.000.000 đồng, đến ngày 11/5/2013, bà D đưa thêm cho H 50.000.000 đồng tiền mặt tại nhà của H. Sau đó H về Hà Nội đưa cho P số tiền mặt 300.000.000 đồng.
Đến khoảng tháng 8/2013, P nói với H là không xin được cho V vào ngành Công an do V đã có tiền án, tiền sự nên không đủ điều kiện. Sau đó P đã trả cho H bộ hồ sơ xin việc của V cùng số tiền 300.000.000 đồng. Số tiền P trả lại H đã sử dụng, chi tiêu cá nhân hết mà không trả lại cho bà D. Khoảng năm 2017 H đã thu xếp trả được cho bà Duyên số tiền 12.000.000 đ (Mười hai triệu đồng).
Tại phiên tòa, người bị hại bà Phạm Thị D yêu cầu bị cáo phải hoàn trả cho bà số tiền còn lại là 288.000.000,đ và bà D yêu cầu tính lãi xuất 1%/tháng của số tiền 288.000.000,đ trong khoảng 10 năm tính đến thời điểm xét xử là 212.000.000,₫ (Hai trăm mười hai triệu), tổng cộng cả gốc và lãi xuất bị cáo H phải bồi thường cho bà là 500.000.000,đ (Năm trăm triệu đồng) và yêu cầu bị cáo thu xếp bồi thường sớm cho bà D, bị cáo H nhất trí với yêu cầu củabà D và cam kết cố gắng tác động đến gia đình để giúp bị cáo bồi thường đầy đủ cho người bị hại bà D.
Do có hành vi trên, tại bản cáo trạng số: 28/CT - VKS, ngày 02/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố bị cáo Trần Thị Mai H về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm c khoản 3 điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009).
Tại phiên toà vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Thị Mai H phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 3 điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b, p khoản 1, khoản 2điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999:
- - Xử phạt bị cáo Trần Thị Mai H từ 08 (tám) năm tù đến 08 (T) năm 06 (S) tháng tù.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: áp dụng điều 42 Bộ luật Hình sự năm 1999; các điều 584, 585 và 589 Bộ luật Dân sự.
Ghi nhận bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại bà Phạm Thị Duyên s tiền 12.000.000 đồng.
Buộc bị cáo Trần Thị Mai H phải có trách nhiệm, nghĩa vụ bồi thường trả số tiền gốc còn lại cho bà Phạm Thị Duyên s tiền 288.800.000 đồng và số tiền lãi xuất là 212.000.000,đ, tổng cộng là 500.000.000,đ (Năm trăm triệu đồng).
Do bị cáo là người cao tuổi nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về hoạt động điều tra, truy tố, đồng thời đã giải thích, tạo điều kiện để bị cáo và những người tham gia tố tụng khác thực hiện đúng, đủ các quyền và nghĩa vụ của họ. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người làm chứng bà Đào Thị M và anh Trần Mạnh C vắng mặt tại phiên tòa có lý do, có đầy đủ ý kiến của bà Đào Thị M và anh Trần Mạnh C trong hồ sơ vụ án, tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị Mai H và người bị hại bà Phạm Thị D không yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, việc vắng mặt bà M và anh C không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, do đó căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện từ năm 2013, thời điểm trước khi Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) có hiệu lực pháp luật nên cần áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 để áp dụng xét xử đối với bị cáo.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Năm 2012, 2013 bị cáo Trần Thị Mai H đã có hành vi, thủ đoạn gian dối mặc dù không có chức năng, nhiệm vụ để bố trí công việc nhưng bị cáo đưa ra thông tin có khả năng xin việc cho anh Đào Văn V (con trai bà Phạm Thị D) nhằm chiếm đoạt tài sản của người bị hại bà Phạm Thị D với số tiền là 300.000.000,₫ (Ba trăm triệu đồng).
Xét tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau: Đơn trình báo và tố cáo của người bị hại; Các tài liệu và lời khai nhận tội của bị cáo; L1 khai, tài liệu của người bị hại; Lời khai của người liên quan, người làm chứng; Biên bản đối chất và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Với các căn cứ chứng minh trên có đủ cơ sở kết luận Trần Thị Mai H đã phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Từ năm 2013 bị cáo Trần Thị Mai H thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản có trị giá 300.000.000,₫ của bà Phạm Thị D,đã phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm a khoản 3 điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999, có mức hình phạt từ 07 đến 15 năm tù, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có trình độ học vấn và có nhận thức về hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác. Tài sản bị cáo chiếm đoạt là tương đối lớn, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng; hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu tại địa phương, ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của cán bộ và cơ quan Nhà nước; Do đó, cần phải xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, tương xứng với tính chất mức độ hành vi đã thực hiện, nhằm mục đích trừng trị tội phạm và răn đe, phòng ngừa chung.
[5]Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo đã tích cực bồi thường khắc phục hậu quả, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, ngoài ra bị cáo có mẹ đẻ là bà Đỗ Thị K, là người có công lao trong cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Ba, đây là các tình tiết giảm nhẹ hình sự được quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, do đó cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung: Kết quả điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo hiện không có tài sản, không có điều kiện để thi hành án, nên sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho người bị hại Phạm Thị D được số tiền là: 12.000.000,₫ (Mười hai triệu đồng). Tại phiên toà, bà D yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền 288.000.000,₫ (Hai trăm tám mươi tám triệu đồng) và số tiền lãi xuất của số tiền gốc tính từ năm 2013 đến nay là 212.000.000,đ. Xét yêu cầu của người bị hại là có căn cứ pháp luật, số tiền lãi xuất không vượt quá mức quy định và được người bị hại và bị cáo tự nguyện thỏa thuận tại phiên tòa nên buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại Phạm Thị D tổng số tiền là 500.000.000,đ, trong đó gồm có 288.000.000,₫ (Hai trăm tám mươi tám triệu đồng) tiền gốc và số tiền lãi xuất là 212.000.000,₫ (Hai trăm mười hai triệu đồng).
[8] Về các đối tượng có liên quan trong vụ án:
Hành vi của anh Trần Mạnh C và bà Đào Thị M: Quá trình điều tra xác định anh Trần Mạnh C, bà Đào Thị M và bị cáo Trần Thị Mai H không trao đổi, bàn bạc với nhau để cùng thực hiện hành vi phạm tội. Anh C và bà M không được hưởng lợi ích gì từ việc H chiếm đoạt tiền của bà Phạm Thị D nên anh C và bà M không có hành vi vi phạm.
Hành vi của ông Nguyễn Khắc B1: Bị cáo Trần Thị Mai H khai báo đã đưa 150.000.000 đồng và hồ sơ cho ông Nguyễn Khắc B1, sinh năm 1959, trú tại: P1003 A3D2 Tổ 3 KĐT Đ, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội để xin cho anh Đào Văn V vào công tác trong ngành Công an. Tuy nhiên ông B1 không xin được việc cho V và đã trả lại hồ sơ cùng số tiền 150.000.000 đồng. Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, ông B1 không thừa nhận nội dung trên. Ngoài lời khai của bị can, Cơ quan điều tra không thu thập được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S không có đủ cơ sở kết luận về nội dung này.
Đối với người phụ nữ tên L, người đàn ông tên P: Quá trình điều tra, bị cáo Trần Thị Mai H khai báo thông qua một người phụ nữ tên L (không rõ họ tên, địa chỉ), bị can đã gặp và đưa tiền cho một người nam giới tên P (không rõ họ tên, địa chỉ) để xin cho anh Đào Văn V vào công tác trong ngành Công an. Tuy nhiên, ngoài lời khai của bị can, Cơ quan Điều tra không thu thập được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S không có đủ căn cứ để tiếp tục điều tra, xác minh.
[9] Về án phí: Do hành vi phạm tội nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật, tuy nhiên bị cáo là người cao tuổi, có ý kiến đề nghị xin miễn án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm, căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12 và khoản 6 điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, cần xem xét miễn án phí hình sự và dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Về hình phạt: Căn cứ vào điểm a khoản 3 điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b, p khoản 1, khoản 2điều 46; điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999:
Tuyên bố bị cáo Trần Thị Mai H phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Xử phạt bị cáo Trần Thị Mai H 08 (T) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/09/2023.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự năm 1999. Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự:
- Buộc bị cáo Trần Thị Mai H phải có trách nhiệm, nghĩa vụ bồi thường cho bà Phạm Thị Duyên s tiền là 500.000.000,đ (Năm trăm triệu đồng), trong đó có 288.000.000,₫ (Hai trăm tám mươi tám triệu đồng) tiền gốc và số tiền lãi xuất là 212.000.000,₫ (Hai trăm mười hai triệu đồng).
- Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12, khoản 6 điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
- Miễn án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/08/2024).
- Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi xuất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Lương Anh |
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Mai Hoa Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
