|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 41/2024/HS-ST Ngày: 29- 7- 2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Vinh
Bà Trần Thị Mai Dung
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2024/TLST-HS ngày 10/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Trịnh Sinh S- Sinh ngày 26/12/1993 tại huyện C, tỉnh Nghệ An. Tên gọi
khác: không. Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam;Tôn giáo: không;Trình độ học vấn:12/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Bố đẻ:Trịnh Văn N, sinh năm 1955; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị D; Sinh năm: 1958;Hiện cùng trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An; Vợ: Thái Thị H, sinh năm 1996 trú tại Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An; Con: 02 con; L sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2022, hiện ở cùng bố mẹ; A, chị, em: Có 04 người, bị cáo là thứ tư; Tiền án, tiền sự: Không;Nhân Thân: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam trong vụ án này, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/3/2024 tại xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An.
* Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lê Việt H1, sinh năm 1986
- - Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: K, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
- Anh Lê Hồng P, sinh năm 1982
- - Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Phố Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội
1
Nội
(Anh H1 và anh P đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Trịnh Sinh S, trú tại xóm T, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An có giấy phép lái xe ô tô hạng FC do Sở giao thông tỉnh N cấp ngày 13/9/2023, có giá trị đến ngày 13/9/2028 là lái xe hợp đồng cho anh Lê Việt H1, trú tại khối G, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Ngày 23/3/2024 theo sự điều động của anh H1, nên bị cáo S điều khiển xe ô tô đầu kéo Biển kiểm soát 37H-047.02 kéo theo sơ mi rơ mooc Biển kiểm soát 37R-041.61 chở hàng là gỗ keo từ tỉnh Quảng Bình đi giao cho khách tại huyện H, tỉnh Phú Thọ. Anh H1 yêu cầu bị cáo S chở hàng đúng trọng tải của xe cho phép tham gia giao thông, nhưng bị cáo S đã tự ý bốc xếp thêm khoảng 4.000 kg với mục đích là để hưởng thêm tiền cước riêng cho bản thân. Khoảng 11 giờ 27 phút ngày 24/03/2024, S điều khiển xe ô tô đi đến Trạm thu phí IC09 cao tốc N1 - Lào Cai thuộc khu E, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ thì gặp Tổ tuần tra kiểm soát giao thông số 07 - Đội 01 - Phòng 06 - Cục C - Bộ C1 gồm 03 người do đồng chí Lê Hồng P, trường trú tại phố Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội làm tổ trưởng, nhiệm vụ: Lập biên bản, dừng phương tiện; đồng chí Lê Huy B, nhiệm vụ: Kiểm soát giấy tờ phương tiện; đồng chí Nguyễn Văn K, nhiệm vụ: Quan sát, sử dụng thiết bị nghiệp vụ. Kế hoạch đảm bảo trật tự an toàn giao thông tuyến cao tốc N - Lào Cai trên đã được Lãnh đạo có thẩm quyền ký phê duyệt. Đồng chí P đã ra hiệu lệnh dừng phương tiện đối với xe ô tô đầu kéo Biển kiểm soát 37H-047.02 kéo theo sơ mi rơ mooc Biển kiểm soát 37R-041.61 do S điều khiển. Sau khi ra hiệu lệnh dừng phương tiện thì S đã điều khiển xe dừng lại. Đồng chí P đứng trước đầu xe ô tô bên trái để yêu cầu S xuống xe xuất trình giấy tờ phục vụ kiểm tra, kiểm soát. Do xe ô tô chở quá tải nên bị cáo S không chấp hành, không xuống xe mà đã điều khiển xe tăng ga tiến về phía trước chỗ vị trí đồng chí P đang đứng để bỏ chạy, buộc đồng chí P phải lùi lại, nhảy tránh ra ngoài phía bên phải theo chiều ô tô đang di chuyển. Trong lúc nhảy tránh xe ô tô thì mũ cối của đồng chí P bị rơi xuống mặt đường và bị xe ô tô chèn qua làm bẹp mũ hỏng, đồng thời đồng chí P dùng gậy gõ vào xe để ra tín hiệu yêu cầu lái xe dừng lại, nhưng trúng gương chiếu hậu bên phải xe nên bị vỡ. Mục đích bị cáo S bỏ chạy là trốn tránh sự kiểm soát của lực lượng Cảnh sát giao thông, trốn tránh việc xử lý vi phạm hành chính và cản trở việc thi hành pháp luật của lực lượng Cảnh sát giao thông. Sau khi bị cáo S điều khiển xe bỏ chạy, Tổ Cảnh sát giao thông đã sử dụng xe ô tô chuyên dụng truy đuổi khoảng 2,5km đến địa bàn
2
khu T, xã V, thị xã P thì dừng được xe ô tô của bị cáo S đồng thời báo tin cho Công an thị xã P biết để giải quyết. Công an thị xã P đã tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong khí thở và ma túy trong nước tiểu của bị cáo S; kết quả trong cơ thể bị cáo S không có cồn và các chất ma túy khi lái xe.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo S thừa nhận hành vi phạm tội như sau: “Theo sự điều động của anh H1 chiều ngày 23/3/2024 bị cáo S điều khiển xe đi bốc gỗ keo tại huyện H, tỉnh Hà Tĩnh sau đó để tra hàng cho khách tại huyện H, tỉnh Phú Thọ. Khoảng 9 giờ ngày 24/3/2024, bị cáo S điều khiển xe ô tô, kéo theo rơ mooc đi đến xã Q, huyện T, thành phố Hà Nội đón anh trai là S1 và con trai của anh S1 là cháu Trịnh Tiến D1 lên xe đi chơi cùng. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày thì đi ra nút giao IC9, khi xe chuẩn bị qua cửa thu phí thì có hai anh Công an Cảnh sát cơ động đứng hai bên lối vào làn thu phí dành cho xe tải, xe quá khổ, còn phía trước có một anh Công an mặc sắc phục Cảnh sát giao thông đội mũ cối màu vàng ra tín hiệu dừng xe ô tô, bị cáo dừng xe lại nhưng vẫn ngồi trên ghế lái, xe ở trạng thái đóng kính. Khi Cảnh sát giao thông đứng phía trước sát đầu xe bên trái xe ô tô yêu cầu bị cáo xuống để làm việc, lúc này biết trên xe đang chở hàng quá tải, sợ bị phạt nên nên nảy sinh ý định bỏ chạy để chốn tránh việc xử lý vi phạm hành chính; đồng thời điều khiển xe ô tô đi từ từ, mục đích là để cho anh Cảnh sát giao thông buộc phải tránh ra một bên để xe ô tô đi thẳng. Bị cáo đã điều khiển xe đi sang bên phải để tránh và đi về phía trước, tiếp tục quan sát qua gương cầu phía trước đầu xe bên phải thì thấy Cảnh sát giao thông vẫn giơ gậy chỉ huy giao thông lên, gõ vào mặt nạ của xe ô tô để yêu cầu bị cáo dừng lại. Thấy không dừng xe ô tô lại thì Cảnh sát giao thông chạy sang phía bên phải xe ô tô để tránh đồng thời dùng gậy chỉ huy giao thông đập vào gương chiếu hậu bên phải. Bị cáo tiếp tục điều khiển xe bỏ chạy ra khỏi trạm thu phí nút giao IC9, khi bị cáo đi cách trạm thu phí I được khoảng 2,5 Km khi nhìn gương chiếu hậu thấy các anh Cảnh sát giao thông đuổi theo và anh trai tôi có khuyên dừng xe lại, nên tôi đã chủ động đỗ xe vào lề đường bên phải rồi xuống làm việc với các anh Cảnh sát giao thông”.
Ngày 01/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P trưng cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thị xã P tiến hành định giá thiệt hại 01 gương chiếu hậu phía dưới bên phải xe ô tô đầu kéo Biển kiểm soát 37H-047.02 và 01 mũ cối màu vàng có gắn Công an hiệu. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐG ngày 04/04/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã P kết luận: Giá trị thiệt hại của 01 gương chiếu hậu phía dưới bên phải xe ô tô đầu kéo Biển kiểm soát 37H-047.02 là 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng). Tại Bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐG ngày 16/04/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã P kết luận: Giá trị thiệt hại
3
của 01 mũ cối màu vàng có gắn Công an hiệu là 184.000 đồng (Một trăm tám mươi tư nghìn đồng).
Về vật chứng và các đồ vật, tài sản thu giữ, kết quả điều tra xác định:
- - Đối với 01 (một) xe ô tô đầu kéo Biển kiểm soát 37H-047.02; nhãn hiệu CHENGLONG; số loại LZ4255H7DB; màu sơn đỏ; số máy YC6MK42050MX1L6N00633; số khung LNXDBL0G5NL407857; tải trọng 38250 kg, đã qua sử dụng, kéo theo sơ mi rơ mooc Biển kiểm soát 37R-041.61 nhãn hiệu XINHONGDONG; số loại LHD9400CCY; số khung LA9940CC4N0LHD182; tải trọng 32050 kg, đã qua sử dụng. Đây là tài sản của anh Lê Việt H1, nên ngày 02/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trả lại cho anh H1 là phù hợp.
- - Đối với 01 (một) Giấy phép lái xe hạng FC, số B, mang tên Trịnh Sinh S do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 13/09/2023, có giá trị đến 13/09/2028 cùng toàn bộ Giấy tờ xe gồm: 01 (một) giấy biên nhận thế chấp giấy đăng ký xe ô tô đầu kéo Biển kiểm soát 37H-047.02, do Ngân hàng TMCP T-T1 - Chi nhánh N2 cấp ngày 05/09/2023; 01 (một) giấy biên nhận thế chấp giấy đăng ký sơ mi rơ mooc Biển kiểm soát 37R-041.61, do Ngân hàng TMCP T-T1 - Chi nhánh N2 cấp ngày 05/09/2023; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô đầu kéo Biển kiểm soát 37H-047.02, do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 37-09D cấp ngày 08/09/2022; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định sơ mi rơ mooc Biển kiểm soát 37R-041.61, do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 37-09D cấp ngày 08/09/2022; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô sơ mi rơ mooc Biển kiểm soát 37R-041.61, do Công ty cổ phần B1 cấp ngày 06/09/2023, là tài sản của anh Lê Việt H1, được chuyển đến Cục C - Bộ C1 để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
- - Đối với 01 mũ cối màu vàng, bị tác động ngoại lực bẹp biến dạng, vỡ nhiều mảnh, phía trên mũ có gắn Công an hiệu, đây là tài sản của anh Lê Hồng P được cấp để thực thi nhiệm vụ.
* Về trách nhiệm dân sự:
Anh Lê Hồng P và anh Lê Việt H1 không yêu cầu bị cáo Trịnh Sinh S phải bồi thường bất kỳ khoản tiền gì cho mình, đồng thời cam kết không có thắc mắc hay khiếu kiện gì về sau nên không xem xét giải quyết.
Về điều kiện kinh tế: Quá trình điều xác định bị cáo Trịnh Sinh S không có tài sản chung, riêng gì có giá trị ngoài đồ dùng sinh hoạt thiết yếu.
Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Sinh S thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như sau:
4
Khoảng 9 giờ ngày 24/3/2024, bị cáo điều khiển xe ô tô, kéo theo rơ mooc đi đến xã Q, huyện T, thành phố Hà Nội đón anh trai là S1 và con trai của anh S1 là cháu D1 lên xe đi chơi cùng. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày thì đi ra nút giao IC9, khi xe chuẩn bị qua cửa thu phí thì có hai anh Công an Cảnh sát cơ động đứng hai bên lối vào làn thu phí dành cho xe tải, xe quá khổ, còn phía trước có một anh Công an mặc sắc phục Cảnh sát giao thông đội mũ cối màu vàng ra tín hiệu dừng xe ô tô, bị cáo dừng xe lại nhưng vẫn ngồi trên ghế lái, xe ở đóng kính. Khi Cảnh sát giao thông đứng phía trước sát đầu xe bên trái xe ô tô yêu cầu bị cáo xuống để làm việc, lúc này biết trên xe đang chở hàng quá tải, sợ bị phạt nên nị cáo nảy sinh ý định bỏ chạy để chốn tránh việc xử lý vi phạm hành chính; đồng thời điều khiển xe ô tô đi từ từ, mục đích là để cho anh Cảnh sát giao thông buộc phải tránh ra một bên để xe ô tô đi thẳng. Bị cáo đã điều khiển xe đi sang bên phải để tránh và đi về phía trước, tiếp tục quan sát qua gương cầu phía trước đầu xe bên phải thì thấy Cảnh sát giao thông vẫn giơ gậy chỉ huy giao thông lên, gõ vào mặt nạ của xe ô tô để yêu cầu bị cáo dừng lại. Thấy không dừng xe ô tô lại thì Cảnh sát giao thông chạy sang phía bên phải xe ô tô để tránh đồng thời dùng gậy chỉ huy giao thông đập vào gương chiếu hậu bên phải. Bị cáo tiếp tục điều khiển xe bỏ chạy ra khỏi trạm thu phí nút giao IC9, khi bị cáo đi cách trạm thu phí I được khoảng 2,5 Km khi nhìn gương chiếu hậu thấy các anh Cảnh sát giao thông đuổi theo và anh trai tôi có khuyên dừng xe lại, nên tôi đã chủ động đỗ xe vào lề đường bên phải rồi xuống làm việc với các anh Cảnh sát giao thông”. Chiếc xe ô tô đầu kéo Biển kiểm soát 37H-047.02; nhãn hiệu CHENGLONG; số loại LZ4255H7DB; màu sơn đỏ; tải trọng 38250 kg, đã qua sử dụng, kéo theo sơ mi rơ mooc Biển kiểm soát 37R-041.61 nhãn hiệu XINHONGDONG; tải trọng 32050 kg, đã qua sử dụng. Đây là tài sản của anh Lê Việt H1, nên ngày 02/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trả lại cho anh H1.
Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKSTXPT ngày 06/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Trịnh Sinh S về tội “Chống người thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 điều 330 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa hôm nay Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 330 BLHS; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Trịnh Sinh S từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng
5
cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử lý vật chứng:
áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
- - Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trả lại cho anh Lê Việt H1 01 (một) xe ô tô đầu kéo Biển kiểm soát 37H-047.02; nhãn hiệu CHENGLONG; số loại LZ4255H7DB; màu sơn đỏ; số máy YC6MK42050MX1L6N00633; số khung LNXDBL0G5NL407857; tải trọng 38250 kg, đã qua sử dụng, kéo theo sơ mi rơ mooc Biển kiểm soát 37R-041.61 nhãn hiệu XINHONGDONG; số loại LHD9400CCY; số khung LA9940CC4N0LHD182; tải trọng 32050 kg, đã qua sử dụng.
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 mũ cối màu vàng, bị tác động ngoại lực bẹp biến dạng, vỡ nhiều mảnh, phía trên mũ có gắn Công an hiệu.
- - Trách nhiệm dân sự: Anh P và anh H1 không yêu cầu bị cáo S phải bồi thường bất kỳ khoản tiền gì cho mình, đồng thời cam kết không có thắc mắc hay khiếu kiện gì về sau. Vì vậy không xem xét giải quyết.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ân hận về hành vi mà bị cáo đã phạm, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng hình phạt nhẹ nhất bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:
Khoảng 11 giờ 27 phút ngày 24/03/2024, tại nút giao Trạm thu phí IC09 cao tốc Nội Bài - Lào Cai thuộc khu E, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ trong khi tổ công tác gồm 03 đồng chí Lê Hồng P, Lê Huy B, Nguyễn Văn K thuộc Cục C - Bộ C1 đang làm nhiệm vụ kiểm soát các phương tiện theo kế hoạch đã được Lãnh đạo ký phê duyệt; đồng chí P đã yêu cầu xe ô tô đầu kéo Biển kiểm soát 37H-047.02 kéo theo sơ mi rơ mooc Biển kiểm soát 37R-041.61 do bị cáo Trịnh Sinh
6
S điều khiển dừng xe để kiểm tra theo quy định. Tuy nhiên, do xe chở quá tải, sợ bị xử phạt nên bị cáo S không chấp hành hiệu lệnh, không xuống xe mà đã điều khiển xe tăng ga tiến về phía trước chỗ vị trí đồng chí P đang đứng để bỏ chạy, buộc đồng chí P phải lùi lại, nhảy tránh ra ngoài phía bên phải theo chiều ô tô đang di chuyển làm rơi mũ cối màu vàng, bị xe ô tô cán qua làm hư hỏng. Tổ công tác đã sử dụng xe ô tô chuyên dụng truy đuổi khoảng 2,5km đến địa bàn khu T, xã V, thị xã P thì dừng được xe ô tô của bị cáo S đồng thời báo tin cho Công an thị xã P biết để giải quyết sự việc theo đúng trình tự quy định của pháp luật.
Đối với hành vi bị cáo Trịnh Sinh S điều khiển xe ô tô đầu kéo Biển kiểm soát 37H-047.02 kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 37R-041.61 chở hàng vượt khối lượng cho phép 28,39% vi phạm tại điểm đ Khoản 2 Điều 24 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt; sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ; Đối với anh Lê Việt H1, là chủ xe ô tô đầu kéo Biển kiểm soát 37H-047.02 kéo theo sơ mi rơ mooc Biển kiểm soát 37R-041.61 đã có hành vi giao phương tiện hoặc để cho người làm công điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 24 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ. Ngày 18/04/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P chuyển tài liệu kèm theo giấy tờ liên quan phương tiện và Giấy phép lái xe của bị cáo S đến Cục C - Bộ C1 đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo S và anh Lê Việt H1 là phù hợp
Đối với anh Trịnh Sắc S2, khi xảy ra sự việc có mặt trên xe ô tô do bị cáo S điều khiển, nhưng không có hành vi xúi giục hay kích động S thực hiện tội Chống người thi hành công vụ, nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý với vai trò đồng phạm là phù hợp.
Đối với anh Lê Hồng P trong khi làm nhiệm vụ, khi sự việc xảy ra mặc dù có dùng gậy giao thông gõ vào xe để cảnh báo S dừng xe lại dẫn đến làm gương bên phải xe ô tô bị vỡ nhưng đã thực hiện đúng quy trình nhiệm vụ được giao, nên không đề cập xử lý trách nhiệm là phù hợp.
Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý kết luận bị cáo Trịnh Sinh S phạm tội: “ Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 điều 330 của Bộ luật hình sự.
Qua đó thấy rằng, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
7
Tại khoản 1 điều 330 Bộ luật hình sự quy định: “ Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm....”
[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến khách thể là hoạt động giữ gìn an ninh trật tự của cơ quan Nhà nước được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật, có điều kiện để nhận thức về pháp luật và hiểu biết xã hội nhưng ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ của bị cáo còn thiếu tự giác, coi thường pháp luật, tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác. Vì vậy vụ án cần phải đưa ra xét xử kịp thời và nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho tội phạm. Tuy nhiên trước khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự : Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình nên đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, bố đẻ của bị cáo là ông Trịnh Văn N có giấy chứng nhận bệnh binh và thương binh hạng ¾ nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú ổn định rõ ràng nên hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội là chưa cần thiết mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại điều 65 của Bộ luật hình sự dưới sự quản lý và giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội và bị cáo cũng thấy được sự khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội .Với mức hình phạt như Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Mức án đó cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội.
[4]. Về vật chứng:
Đối với 01 (một) xe ô tô đầu kéo Biển kiểm soát 37H-047.02; nhãn hiệu CHENGLONG; số loại LZ4255H7DB; màu sơn đỏ; số máy YC6MK42050MX1L6N00633; số khung LNXDBL0G5NL407857; tải trọng
8
38250 kg, đã qua sử dụng, kéo theo sơ mi rơ mooc Biển kiểm soát 37R-041.61 nhãn hiệu XINHONGDONG; số loại LHD9400CCY; số khung LA9940CC4N0LHD182; tải trọng 32050 kg, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Lê Việt H1. Xét thấy trả lại tài sản không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên ngày 02/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trả lại cho anh H1 là phù hợp cần xác nhận trong bản án.
- Đối với 01 (một) Giấy phép lái xe hạng FC, số B, mang tên Trịnh Sinh S do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 13/09/2023, có giá trị đến 13/09/2028 cùng toàn bộ Giấy tờ xe gồm: 01 (một) giấy biên nhận thế chấp giấy đăng ký xe ô tô đầu kéo Biển kiểm soát 37H-047.02, do Ngân hàng TMCP T-T1 - Chi nhánh N2 cấp ngày 05/09/2023; 01 (một) giấy biên nhận thế chấp giấy đăng ký sơ mi rơ mooc Biển kiểm soát 37R-041.61, do Ngân hàng TMCP T-T1 - Chi nhánh N2 cấp ngày 05/09/2023; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô đầu kéo Biển kiểm soát 37H-047.02, do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 37-09D cấp ngày 08/09/2022; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định sơ mi rơ mooc Biển kiểm soát 37R-041.61, do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 37-09D cấp ngày 08/09/2022; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô sơ mi rơ mooc Biển kiểm soát 37R-041.61, do Công ty cổ phần B1 cấp ngày 06/09/2023, là tài sản của anh Lê Việt H1, được chuyển đến Cục C - Bộ C1 để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định là phù hợp
Đối với 01 mũ cối màu vàng, bị tác động ngoại lực bẹp biến dạng, vỡ nhiều mảnh, phía trên mũ có gắn Công an hiệu, đây là tài sản của anh Lê Hồng P được cấp để thực thi nhiệm vụ. Trong quá trình điều tra anh Lê Hồng P có quan điểm đề nghị cơ quan pháp luật, tịch thu tiêu hủy đối với chiếc mũ cối này do không còn giá trị sử dụng. Vì vậy cần tịch thu tiêu hủy đối với chiếc mũ cối này là phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Anh Lê Hồng P và anh Lê Việt H1 không yêu cầu bị cáo Trịnh Sinh S phải bồi thường bất kỳ khoản tiền gì cho mình, đồng thời cam kết không có thắc mắc hay khiếu kiện gì về sau. Vì vậy hội đồng xét xử không xem xét giải quyết quyết.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 330; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1
9
điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên bố bị cáo Trịnh Sinh S phạm tội “ Chống người thi hành công vụ”.
Xử phạt bị cáo Trịnh Sinh S 15( mười năm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi ) tháng. thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo Trịnh Sinh S phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Giao bị cáo Trịnh Sinh S cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ an, nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo Trịnh Sinh S có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Trịnh Sinh S cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Trịnh Sinh S phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp bị cáo Trịnh Sinh S thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và điều 68 Luật thi hành án hình sự.
[3] Về xử lý vật chứng:
- - Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trả lại cho anh Lê Việt H1 01 (một) xe ô tô đầu kéo Biển kiểm soát 37H-047.02; nhãn hiệu CHENGLONG; số loại LZ4255H7DB; màu sơn đỏ; số máy YC6MK42050MX1L6N00633; số khung LNXDBL0G5NL407857; tải trọng 38250 kg, đã qua sử dụng, kéo theo sơ mi rơ mooc Biển kiểm soát 37R-041.61 nhãn hiệu XINHONGDONG; số loại LHD9400CCY; số khung LA9940CC4N0LHD182; tải trọng 32050 kg, đã qua sử dụng.
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 mũ cối màu vàng, bị tác động ngoại lực bẹp biến dạng, vỡ nhiều mảnh, phía trên mũ có gắn Công an hiệu.
(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06/06/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ)
[4] Về án phí: Bị cáo Trịnh Sinh S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
10
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Ngọc Hà |
11
12
13
14
15
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự (chống người thi hành công vụ)
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Chống người thi hành công vụ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chống người thi hành công vụ
