Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁI THỤY

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 62/2024/HS-ST

Ngày: 17 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Việt Hưng
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Tiến và bà Vũ Thị Thúy.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2024/TLST - HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 54/2024/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đào Trọng G, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1981, giới tính: nam; tại huyện T, tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: thôn L, xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, trình độ học vấn: 7/12, nghề nghiệp: lao động tự do, căn cước công dân số: [...]. Con ông Đào Duy H (đã chết); con bà Giang Thị H1, sinh năm 1956. Có vợ Phạm Thị T, sinh năm 1984, có 03 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2016.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Bản án số 12/2017/HSST ngày 28 tháng 02 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Chấp hành xong thời gian thử thách ngày 28 tháng 02 năm 2018, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 10 tháng 7 năm 2017). Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; bị cấm đi khỏi nơi cư trú. ( Có mặt).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1975, trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình . Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 16 tháng 9 năm 2021, do cần tiền để chi tiêu cá nhân nên chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1975, trú tại thôn T, xã T, huyện T đến nhà Đào Trọng G ở thôn L, xã M hỏi vay số tiền 50.000.000 đồng. G đồng ý cho vay tiền và không tính lãi yêu cầu chị H2 viết giấy vay tiền rồi giao tiền mặt cho chị H2 hẹn sau 20 ngày phải trả tiền. Đến hẹn, G gặp chị H2 đòi tiền nhưng chị H2 xin khất nợ và hẹn sau 01 năm trả tiền. G đồng ý và vẫn không tính lãi.

Đến tháng 9 năm 2022, G gặp chị H2 đòi tiền nhưng chị H2 chưa có tiền trả nên cả hai thỏa thuận về việc bắt đầu tính lãi, từ tháng 9 năm 2022, không thỏa thuận về thời gian trả tiền nợ gốc, mỗi tháng chị H2 phải trả cho G 6.000.000 đồng tiền lãi tương đương số tiền lãi 4000 đồng/ 1.000.000 đồng/ 01 ngày.

Từ tháng 9 năm 2022 đến tháng 6 năm 2023, chị H2 trả tiền lãi cho G theo đúng thỏa thuận, mỗi tháng 6.000.000 đồng, bằng hình thức chuyển khoản đến tài khoản số 1025933116 của chị Phạm Thị T, sinh năm 1984 (Vợ của G) mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N (V), chi nhánh Đ (Chỉ có tháng 12/2022, chị H2 trả lãi bằng tiền mặt, đưa trực tiếp cho G, ở nhà G). Từ tháng 7/2023, do khó khăn nên chị H2 không trả tiền lãi cho G theo thỏa thuận. Sau đó G nhiều lần gặp chị H2 đòi tiền nợ gốc, không tính tiền lãi từ tháng 7/2023 nhưng chị H2 chưa trả được khoản vay này. Ngày 31/01/2024, chị H2 làm đơn gửi đến Công an huyện T tố giác hành vi phạm tội của G.

Như vậy, từ tháng 9 năm 2022 đến tháng 6 năm 2023, G đã thu của chị H2 10 tháng tiền lãi, với tổng số tiền lãi là 60.000.000 đồng, tương đương với lãi suất 146%/năm, gấp 7,3 lần so với mức lãi suất cao nhất trong giao dịch dân sự quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự; trong đó số tiền tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 8.219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 51.780.822 đồng. G không có giấy phép kinh doanh trong lĩnh vực cho vay, cấp tín dụng.

Bản cáo trạng số: 55/CT-VKSTTTB ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Đào Trọng G, về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đào Trọng G về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”

  • * Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự, điểm p, s khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 35, Điều 50, Điều 36 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Đào Trọng G từ 1 năm đến 1 năm 3 tháng cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Phạt tiền bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

  • * Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự.
  • - Buộc bị cáo phải trả lại cho chị Nguyễn Thị H2 số tiền thu lợi bất chính là 51.780.822 đồng.
  • - Truy thu của chị Nguyễn Thị H2 số tiền 50.000.000 đồng là tiền nợ gốc bị cáo G dùng vào việc phạm tội chị H2 chưa trả cho G.
  • - Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự mà bị cáo đã thu của người vay là 8.219.178 đồng
  • * Về án phí: Bị cáo G bị tàn tật không có thu nhập nên miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến và tranh luận gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị cáo Đào Trọng G là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Ngày 16/9/2021, Đào Trọng G cho chị Nguyễn Thị H2 vay số tiền 50.000.000 đồng, thỏa thuận tính lãi từ tháng 9/2022, mỗi tháng là 6.000.000 đồng, tương đương với lãi suất 146%/năm, gấp 7,3 lần so với mức lãi suất cao nhất trong giao dịch dân sự quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Từ tháng 9/2022 đến tháng 6/2023, G đã thu của chị H2 10 tháng tiền lãi, với tổng số tiền lãi là 60.000.000 đồng, trong đó số tiền tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự

là 8.219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 51.780.822 đồng. Hành vi của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Đơn tố cáo đề ngày 31/01/2024. Biên bản ghi lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Chị Nguyễn Thị H2. Giấy biên nhận vay tiền và bản in tin nhắn qua điện thoại di động giữa Đào Trọng G và chị Nguyễn Thị H2. Công văn trả lời của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N, chi nhánh Đ ngày 22/02/2024, về việc cung cấp thông tin tài khoản số 0001025933116, chủ tài khoản chị Phạm Thị T, kèm theo bản sao kê chi tiết giao dịch từ ngày 01/01/2022 đến ngày 31/12/2022 và từ ngày 01/01/2023 đến ngày 31/10/2023 cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự. Hành vi nêu trên của bị cáo Đào Trọng G đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

Như vậy hành vi phạm tội của bị cáo cáo Đào Trọng G đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[3.1] Về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo Đào Trọng G đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, trật tự trong lĩnh vực quản lý tiền tệ. Bị cáo Đào Trọng G cho chị Nguyễn Thị H2 vay số tiền 50.000.000 đồng, thỏa thuận tính lãi từ tháng 9/2022, mỗi tháng là 6.000.000 đồng, tương đương với lãi suất 146%/năm, gấp 7,3 lần so với mức lãi suất cao nhất trong giao dịch dân sự quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự nên cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng đối với hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đào Trọng G bị khuyết tật đặc biệt nặng (Dạng khuyết tật vận động thần kinh), thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p, s khoản 1 Điều 51

Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[3.4] Trên cơ sở đánh giá tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì Hội đồng xét xử thấy. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ Hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, thể hiện sự coi thường pháp luật, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý nhà nước về kinh tế. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, vì vậy cần áp dụng hình Cải tạo không giam giữ với bị cáo cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung, tuy nhiên cũng cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo có quyết tâm cải tạo tốt.

[4] Về hình phạt bổ sung khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự quy định:

...3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Bị cáo cho vay lãi nặng nhằm mục đích kiếm lời nên cần xử phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp theo quy định của pháp luật.

[4.1] Bị cáo là người khuyết tật nên không khấu trừ thu nhập cá nhân đối với bị cáo là phù hợp.

[5.] Biện pháp tư pháp:

[5.1.] Buộc bị cáo phải trả lại cho chị Nguyễn Thị H2 số tiền thu lợi bất chính là 51.780.822 đồng.

[5.2.] Truy thu của chị Nguyễn Thị H2 số tiền 50.000.000 đồng là tiền nợ gốc bị cáo G dùng vào việc phạm tội chị H2 chưa trả cho G.

[5.3.] Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự mà bị cáo đã thu của người vay là 8.219.178 đồng

[6.] Đối với chị Phạm Thị T là vợ bị cáo làm công nhân ở Hải Phòng, mục đích mở tài khoản số 1025933116 tại Ngân hàng V để công ty trả lương hằng tháng; không biết việc bị cáo cho vay tiền và thu lãi của chị H2 nên không đồng phạm, Cơ quan điều tra không xử lý là đúng pháp luật.

[7.] Về án phí: Miễn án phí hình sơ thẩm theo quy định.

[8.] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Đào Trọng G phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự, điểm p, s khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 35, Điều 46, Điều 47, Điều 48, Điều 50, Điều 36 Bộ luật hình sự. Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 3 Điều 35 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    1. Xử phạt bị cáo Đào Trọng G 1 năm cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình quản lý giám sát giáo dục.

  1. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
  2. Phạt tiền bị cáo 25.000.000 đồng( Hai mươi lăm triệu đồng)
  1. Biện pháp tư pháp:
    1. Buộc bị cáo Đào Trọng G phải trả lại cho chị Nguyễn Thị H2 số tiền thu lợi bất chính là 51.780.822 đồng.
    2. Truy thu của chị Nguyễn Thị H2 số tiền 50.000.000 đồng là tiền nợ gốc bị cáo G dùng vào việc phạm tội chị H2 chưa nộp lại.
    3. Tịch thu sung quỹ nhà nước bị cáo Đào Trọng G số tiền 8.219.178 đồng.
  2. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đào Trọng G.
  3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đào Trọng G có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 17 tháng 5 năm 2024. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H2 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình.
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình.
  • - Ủy ban nhân dân xã Mỹ Lộc, huyện Thái thụy, tỉnh Thái Bình.
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Việt Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 62/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger