Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH HẢI

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 41/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 28-11-2023

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thiên Quan.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Thơ.
  2. Bà Huỳnh Thị Bích Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Quý – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cảnh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023 tại hội trường xử án, Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 78/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06-10-2023, quyết định hoãn phiên tòa số 35/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31-10-2023 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm: 1980. (có mặt)
  • - Bị đơn: Ông Huỳnh Phi L, sinh năm: 1980. (vắng mặt)

Trú tại: Thôn G, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 06-4-2023, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T trình bày:

Bà và ông L quen biết và tiến tới hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới, đăng ký kết hôn tại UBND xã T ngày 05-6-2020, giấy chứng nhận kết hôn số 26. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại G, T. Vợ chồng chung sống hạnh phúc, mâu thuẫn cách đây khoảng năm 2021, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông L ăn nhậu say xỉn, không biết chăm lo cho gia đình, thường xuyên đánh bà. Vợ chồng không liên lạc cuối năm 2021 cho đến nay. Hiện nay bà không còn tình cảm với ông L nữa, bà xin ly hôn.

Vợ chồng có 01 con chung tên Huỳnh Nguyễn Đại P, sinh ngày 13-7-2020, con hiện nay đang ở với bà, nếu ly hôn bà xin nuôi con và không yêu cầu ông L cấp dưỡng.

Hiện nay bà làm lao động tự do, thu nhập ổn định đủ để nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Bị đơn ông Huỳnh Phi L vắng mặt không có lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Nguyên đơn đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, riêng Bị đơn vắng mặt dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đúng thành phần, xét xử đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Nguyên đơn, giao 01 con chung tên Huỳnh Nguyễn Đại P, sinh ngày 13-7-2020 cho bà Nguyễn Thị Kim T trực tiếp nuôi dưỡng, ông L không phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    1. Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ kiện này là: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
    2. Tại phiên tòa hôm nay Bị đơn ông L tiếp tục vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Bị đơn.
  2. Về nội dung:
  3. Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:

    1. Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kim T và ông Huỳnh Phi L được xác lập trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, đây là hôn nhân hợp pháp.
    2. Tại phiên tòa bà T trình bày vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng từ năm 2021, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, ông L ăn nhậu say xỉn, không biết chăm lo cho gia đình, thường xuyên đánh bà nên bà về nhà mẹ sống từ năm 2021 cho đến nay.

      Xét thấy, vợ chồng đã sống ly thân và mạnh ai người đó sống, không quan tâm chăm sóc gì đến nhau từ năm 2021, ông L không mong muốn hàn gắn tình cảm, lời trình bày của bà T phù hợp với biên bản xác minh ở địa phương ngày 22-11-2023. Như vậy, có căn cứ cho thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông L đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H.

    3. Về quan hệ con cái: Bà T và ông L có 01 con chung tên: Huỳnh Nguyễn Đại P, sinh ngày 13-7-2020. Con hiện nay đang ở với bà T, bà T có nguyện vọng nuôi cháu P, cháu P còn nhỏ và sống với mẹ đã quen. Hội đồng xét xử thấy rằng việc giao

con chung cho bà Nguyễn Thị Kim T trực tiếp nuôi dưỡng sẽ đảm bảo tốt nhất cho con. Về cấp dưỡng nuôi con, do bà T không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa giải quyết trong vụ án này.
  1. Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, phù hợp với những nhận định trên, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T.

2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim T được ly hôn với ông Huỳnh Phi L.

3. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Kim T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung tên Huỳnh Nguyễn Đại P, sinh ngày 13-7-2020. Ông Huỳnh Phi L không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà T không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007264 ngày 29-3-2023. Bà T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt Nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng Bị đơn ông L vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKS tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Hải;
  • - CC THADS huyện Ninh Hải;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Tân Hải;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trần Thiên Quan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2023/HNGĐ-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 41/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Kim T ly hôn Huỳnh Phi L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger