TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 41/2024/HS-ST Ngày: 28-8-2024. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trường Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Đình Mạnh.
Bà Trần Thị Định.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị H Ninh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2024/HSST-QĐ ngày 20 tháng 8 năm 2024; đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Hữu T, sinh năm 1991; sinh tại Nam Định.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: thôn Hồ Sen, xã Vĩnh Hào, huyện V, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu Tùy, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị Oanh, sinh năm 1963; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 16-12-2016 có hành vi đánh bạc bị Công an huyện V, tỉnh Nam Định ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 31 ngày 05-01-2017 bằng hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng, T đã nộp phạt xong theo biên lai thu số 4026629 (ngày 05-01-2017). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 22-5-2024 cho đến nay.
2. Vũ Ngọc D, sinh năm 1990; sinh tại Nam Định.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: thôn An Lạc, xã Tam Thanh, huyện V, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Kế Thiết, sinh năm 1962 và bà Dương Thị Hoa, sinh năm 1963; có vợ là Hoàng Thị Dung, sinh năm 1995 và 03 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 22-5-2024 cho đến nay.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Mai Văn H, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn Đại Lại, xã Vĩnh Hào, huyện V, tỉnh Nam Định.
(Tại phiên tòa có mặt: Bị cáo T, D và anh Mai Văn H).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thông qua nguồn tin, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã lấy lời khai của Nguyễn Hữu T phát hiện T có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề trái phép cho một số đối tượng từ khoảng đầu tháng 12-2023. Dựa vào kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng hàng ngày. T sử dụng điện thoại di động của mình nhãn hiệu Iphone 11 Pro max màu xanh than, gắn sim số 0986.730.775, tài khoản zalo tên “Tuan Nguyen” để nhận các số lô, số đề của người chơi qua tin nhắn Zalo, Facebook, danh bạ điện thoại. Hàng ngày, sau khi có kết quả xổ số Miền Bắc, T tính toán tiền thắng thua với những người đã mua số lô, số đề của T rồi nhắn tin thông báo số tiền thắng thua với những người này. Việc giao nhận tiền thắng thua sẽ được chi trả vào các ngày sau đó trực tiếp bằng tiền mặt VNĐ.
Quá trình đánh bạc dưới hình thức chơi số lô, số đề, T và các đối tượng thống nhất như sau:
Người chơi mua số lô, số đề dựa trên kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng hồi 18 giờ 15 phút cùng ngày để xác định kết quả trúng thưởng hoặc không.
- + Về số đề: Người chơi chọn số bất kỳ từ 00 đến 99, nếu trùng với hai số cuối cùng của giải đặc biệt thì người chơi trúng thưởng và được hưởng số tiền gấp 80 lần số tiền người chơi đã ghi (1.000 đồng trúng 80.000 đồng).
- + Về số lô: Người chơi chọn số bất kỳ từ 00 đến 99, nếu trùng với hai số cuối cùng của tất cả các giải từ giải đặc biệt đến giải 7 thì người chơi sẽ được hưởng số tiền tương ứng 1 điểm lô (bằng 22.500 đồng) ăn 80.000 đồng.
- + Lô xiên 2, lô xiên 3, lô xiên 4: Người chơi chọn các cặp gồm hai số, ba số hoặc bốn số khác nhau từ 00 đến 99. Nếu các cặp gồm hai số, ba số hoặc bốn số khác nhau này trùng với hai số cuối cùng của tất cả các giải từ giải đặc biệt đến giải 7 thì người chơi sẽ được hưởng số tiền tương ứng như sau: Lô xiên 2 thì người chơi được hưởng số tiền gấp 10 lần số tiền người chơi đã ghi (1.000 đồng trúng 10.000 đồng); Lô xiên 3 thì người chơi được hưởng số tiền gấp 40 lần số tiền người chơi đã ghi (1.000 đồng trúng 40.000 đồng); Lô xiên 4 thì người chơi được hưởng số tiền gấp 100 lần số tiền người chơi đã ghi (1.000 đồng trúng 100.000đồng).
- + Về số đề ba càng: Người chơi chọn số bất kỳ từ 000 đến 999, nếu trùng với ba số cuối cùng của giải đặc biệt thì người chơi trúng thưởng và được hưởng số tiền gấp 400 lần số tiền người chơi đã ghi (1.000 đồng trúng 400.000 đồng).
Ngày 31-01-2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trưng cầm giám định về việc phục hồi phần nội dung tin nhắn văn bản SMS, tin nhắn trên các ứng dụng Facebook, Zalo, danh bạ điện thoại, nhật ký cuộc gọi điện thoại đối với các điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Hữu T, Vũ Ngọc D và Mai Văn H. Ngày 29-02-2024, Phòng KTHS Công an tỉnh Nam Định có bản Kết luận giám định số 431/KL-KTHS kết luận: Dữ liệu trích xuất được từ 03 điện thoại gửi giám định là 2,06 GB dung lượng dữ liệu, được lưu trong 01 đĩa DVD, bên trên mặt đĩa có chữ ký, chữ viết của Giám định viên. Quá trình kiểm tra trong phần tin nhắn trên ứng dụng Zalo thời gian từ ngày 18-01-2024 đến ngày 24-01-2024 nhiều tin nhắn có nội dung liên quan đến việc đánh bạc dưới hình thức chơi số lô, số đề trong 03 chiếc điện thoại trên.
Ngày 27-02-2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã có Công văn số 41/CV-CQCSĐT gửi tổng công ty viễn thông Viettel yêu cầu cung cấp thông tin chủ sở hữu của số thuê bao 0394.018.599 và 0986.730.775. Ngày 04-04-2024 tổng công ty viễn thông Viettel đã có công văn trả lời số 3389/2024/CNVTQĐ-TTKT xác định: chủ thuê bao 0394.018.599 là Mai Văn H, sinh ngày 22-9-1994, địa chỉ: Vĩnh Hào, V, Nam Định; chủ thuê bao 0986.730.775 là Nguyễn Hữu T, sinh ngày 02-10-1991, địa chỉ: Hồ Sen, Vĩnh Hào, V, Nam Định.
Ngày 12-3-2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã có Công văn số 53/CV-CQCSĐT gửi Công ty cổ phần viễn thông Đông Dương Telecom yêu cầu cung cấp thông tin chủ sở hữu của số thuê bao 0879.931.990. Ngày 15-3-2024 Công ty cổ phần viễn thông Đông Dương Telecom đã có công văn trả lời số 279/2024/CV-I-Telecom xác định: chủ thuê bao là Vũ Ngọc D, sinh ngày 09-3-1990, địa chỉ: Tam Thanh, V, Nam Định.
Quá trình điều tra xác định:
Vũ Ngọc D sử dụng điện thoại di động Redmi Note 12 Pro 5G vỏ màu đen, gắn sim số 0879.931.990, tài khoản zalo tên “D Dung” để nhắn tin mua số lô, số đề với T trong các ngày, cụ thể như sau:
- - Ngày 18-01-2024, D mua của T các số lô: 24, 52, 84, 54 mỗi con 15 điểm (Một điểm lô tương đương số tiền 22.500đ); đề: đầu 2, đuôi 2, đầu 4, đuôi 4 mỗi con 15.000đ, 24, 42, 15, 25 mỗi con 50.000đ. Ngày hôm đó D trúng thưởng số lô 84 được số tiền 1.200.000đ. Tổng số tiền D đánh bạc với T là 3.350.000đ.
- - Ngày 19-01-2024, D mua của T các số lô: 47, 74, 54, 99, 23, 59 mỗi con 15 điểm; đề: đầu 7, đuôi 7, đuôi 8, tổng 1 mỗi con 20.000đ; đề 08, 77 mỗi con 100.000đ. Ngày hôm đó D trúng thưởng số lô 74 được số tiền 1.200.000đ. Tổng số tiền D đánh bạc với T là 4.225.000đ.
- - Ngày 20-01-2024, D mua của T các số lô: 75 = 60 điểm, lô 46, 69, 34, 43 mỗi con 10 điểm; đề: đầu 4, đuôi 4 mỗi con 20.000đ; đề 49, 40 mỗi con 75.000đ. Ngày hôm đó D trúng thưởng số đề 64 được số tiền 1.600.000đ. Tổng số tiền D đánh bạc với T là 4.400.000đ.
- - Ngày 21-01-2024, D mua của T các số lô: 16, 15, 59, 61, 77, 06 mỗi con 15 điểm; đề: đầu 0, đầu 1, đầu 5, đuôi 5, tổng 1 mỗi con 15.000đ; đề 16, 61, 55 mỗi con 50.000đ. Ngày hôm đó D trúng thưởng số lô 16, 59, số đề 19 được tổng số tiền 3.600.000đ. Tổng số tiền D đánh bạc với T là 6.525.000đ.
- - Ngày 22-01-2024, D mua của T các số lô: 34, 75, 69, 28, 82 mỗi con 20 điểm; đề: đầu 7, đầu 8, đuôi 8 mỗi con 20.000đ; đề 28, 82, 57 mỗi con 50.000đ, đề 75 = 250.000đ. Ngày hôm đó D trúng thưởng số lô 34, 82 được số tiền 3.200.000đ. Tổng số tiền D đánh bạc với T là 6.450.000đ.
- - Ngày 23-01-2024, D mua của T các số lô: 43 = 50 điểm, lô 71, 11, 47, 74, 07 mỗi con 10 điểm; đề: đầu 5, đuôi 5, đầu 0 mỗi con 20.000đ; đề 75 = 10.000đ, đề 56, 65 mỗi con 50.000đ. Ngày hôm đó D trúng thưởng số lô 11 hai nháy và 74 được số tiền 2.400.000đ. Tổng số tiền D đánh bạc với T là 5.450.000đ.
- - Ngày 24-01-2024, D mua của T các số lô: 43, 75, 96, 11 mỗi con 25 điểm; đề: 41, 96 mỗi con 50.000đ, đề đầu 5, đuôi 5, tổng 4 mỗi con 20.000đ. Ngày hôm đó D trúng thưởng số lô 43, 11 được số tiền 4.000.000đ. Tổng số tiền D đánh bạc với T là 6.950.000đ.
Như vậy từ ngày 18-01-2024 đến ngày 24-01-2024, Vũ Ngọc D đánh bạc với Nguyễn Hữu T trong 7 ngày; trong đó có 04 ngày đánh bạc với số tiền trên 5.000.000đ, 03 ngày đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000đ. Tổng số tiền lô đề D mua của T là 20.150.000đ, D trúng thưởng được số tiền là 17.200.000đ. Tổng số tiền đánh và trúng thưởng là 37.350.000đ. Đến thời điểm bị phát hiện, D và T đã thanh toán hết tiền đánh bạc, tiền trúng thưởng cho nhau.
Mai Văn H sử dụng điện thoại di động Sam Sung Galaxy A33 5G vỏ màu xanh nhạt, gắn sim số 0394.018.599, tài khoản zalo tên “H K” để nhắn tin mua số lô, số đề với Nguyễn Hữu T trong các ngày, cụ thể như sau:
- - Ngày 20-01-2024, H mua của T số lô: 67 = 50 điểm (Một điểm lô tương đương số tiền 22.500đ) với số tiền là 1.125.000đ. Ngày hôm đó H không trúng số lô nào.
- - Ngày 21-01-2024, H mua của T số lô: 67 = 50 điểm với số tiền là 1.125.000đ. Ngày hôm đó H không trúng số lô nào.
- - Ngày 22-01-2024, H mua của T số lô: 67 = 50 điểm với số tiền là 1.125.000đ. Ngày hôm đó H không trúng số lô nào.
- - Ngày 24-01-2024, H mua của T số lô: 32, 33 mỗi con 50 điểm, với số tiền là 2.250.000đ. Ngày hôm đó H không trúng số lô nào.
Như vậy từ ngày 20-01-2024 đến ngày 24-01-2024, Mai Văn H đánh bạc với Nguyễn Hữu T trong 04 ngày với số tiền đánh bạc các ngày đều dưới 5.000.000đ. H mua của T tổng số tiền lô là 5.625.000đ, H không trúng thưởng được số tiền nào. Đến thời điểm bị phát hiện, H và T đã thanh toán hết tiền đánh bạc với nhau.
Từ ngày 18-01-2024 đến ngày 24-01-2024, Nguyễn Hữu T đánh bạc với Vũ Ngọc D và Mai Văn H trong 7 ngày; trong đó có 05 ngày đánh bạc với số tiền trên 5.000.000đ gồm: Ngày 20/01/2024 số tiền đánh bạc là 5.525.000đ; ngày 21-01-2024 số tiền đánh bạc là 7.650.000đ; ngày 22-01-2024 số tiền đánh bạc là 7.575.000đ; ngày 23-01-2024 số tiền đánh bạc là 5.450.000đ; ngày 24-01-2024 số tiền đánh bạc là 9.200.000đ; 02 ngày đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000đ. Tổng số tiền lô, đề T đánh bạc với D, H là 25.775.000đ; D trúng thưởng được số tiền là 17.200.000đ. Tổng số tiền đánh và trúng thưởng là 42.975.000đ. T khai nhận tất cả các số lô, số đề bán được cho khách T giữ lại để tính thắng thua cho khách, không chuyển cho ai.
Bản cáo trạng số 34/CT-VKSVB ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố Nguyễn Hữu T và Vũ Ngọc D về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và tỏ ra ăn năn hối cải, ngoài ra các bị cáo còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt và các bị cáo xin được cải tạo ở môi trường ngoài xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định, giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm tội của các bị cáo như nội dung bản cáo trạng; ngoài ra Viện kiểm sát bổ sung cáo trạng truy thu của bị cáo Vũ Ngọc D số tiền là 17.200.000đ và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt:
- - Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu T và Vũ Ngọc D phạm tội “Đánh bạc”.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự:
- + Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T từ 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ một phần thu nhập cho bị cáo.
- + Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc D từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ một phần thu nhập cho bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- 2.1. Tịch thu bán hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max màu xanh than đã cũ, số IMEI 1: 353895106852267, IMEI 2: 353895107096485, bên trong gắn sim số 0986.730.775 thu giữ của Nguyễn Hữu T.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 Pro 5G vỏ màu đen đã cũ, số IMEI 1: 868101064417238, IMEI 2: 868101064417246, bên trong gắn sim số 0879.931.990 thu giữ của Vũ Ngọc D.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A33 5G vỏ màu xanh nhạt đã cũ, số IMEI 1: 351494690564216, IMEI 2: 351494690564219, bên trong gắn sim số 0394.018.599 thu giữ của Mai Văn H.
- 2.2. Truy thu sung vào ngân sách Nhà nước khoản tiền mà các bị cáo Nguyễn Hữu T và Vũ Ngọc D đã thu lợi bất chính từ việc phạm tội; cụ thể: Truy thu của bị cáo Nguyễn Hữu T số tiền là 25.775.000đ. Truy thu của bị cáo Vũ Ngọc D số tiền là 17.200.000đ.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu T và Vũ Ngọc D phạm tội “Đánh bạc".
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 24 (Hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện V, tỉnh Nam Định nhận được quyết định thi hành án của Tòa án.
- Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc D 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện V, tỉnh Nam Định nhận được quyết định thi hành án của Tòa án.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu bán hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max màu xanh than đã cũ, số IMEI 1: 353895106852267, IMEI 2: 353895107096485, bên trong gắn sim số 0986.730.775 thu giữ của Nguyễn Hữu T.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 Pro 5G vỏ màu đen đã cũ, số IMEI 1: 868101064417238, IMEI 2: 868101064417246, bên trong gắn sim số 0879.931.990 thu giữ của Vũ Ngọc D.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A33 5G vỏ màu xanh nhạt đã cũ, số IMEI 1: 351494690564216, IMEI 2: 351494690564219, bên trong gắn sim số 0394.018.599 thu giữ của Mai Văn H.
- Truy thu sung vào ngân sách Nhà nước khoản tiền mà các bị cáo Nguyễn Hữu T và Vũ Ngọc D đã thu lợi bất chính từ việc phạm tội; cụ thể:
- Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Hữu T và Vũ Ngọc D, mỗi bị cáo pH nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Hữu T, Vũ Ngọc D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Mai Văn H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. (Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Mai Văn H được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình).
- - Các bị cáo;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- - TAND tỉnh Nam Định;
- - VKSND huyện + tỉnh;
- - Công an huyện V;
- - CCTHADS huyện V;
- - UBND xã Vĩnh Hào;
- - UBND xã Tam Thanh;
- - Lưu hồ sơ vụ án;
- - Lưu VP Tòa án.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Nguyễn Hữu T và Vũ Ngọc D pH nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Xét các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V; của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện V và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.
[2]. Về tội danh đối với hành vi của các bị cáo: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Hữu T và Vũ Ngọc D tại phiên tòa phù hợp với toàn bộ lời khai của các bị cáo, của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, cũng như các vật chứng của vụ án đã thu giữ. Nên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Từ ngày 18-01-2024 đến ngày 24-01-2024, Nguyễn Hữu T đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề được thua bằng tiền qua tin nhắn trên ứng dụng Zalo với Vũ Ngọc D và Mai Văn H trong 7 ngày; trong đó có 05 ngày đánh bạc với số tiền trên 5.000.000đ, 02 ngày đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000đ. Tổng số tiền đánh bạc là 42.975.000đ.
Từ ngày 18-01-2024 đến ngày 24-01-2024, Vũ Ngọc D đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề được thua bằng tiền qua tin nhắn trên ứng dụng Zalo với Nguyễn Hữu T trong 7 ngày; trong đó có 04 ngày đánh bạc với số tiền trên 5.000.000đ, 03 ngày đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000đ. Tổng số tiền đánh bạc là 37.350.000đ.
Xét hành vi mà các bị cáo đã thực hiện nêu trên có đủ các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Do đó, quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện V đối với hành vi phạm tội của các bị cáo T và D là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3]. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Xét hành vi phạm tội của các bị cáo T và D là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, ngoài ra còn gây ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa của địa phương và gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, pH buộc các bị cáo chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện và cần pH áp dụng loại hình phạt cũng như mức hình phạt tương xứng với mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của các bị cáo và tương xứng với nhân thân của các bị cáo để cải tạo, giáo dục các bị cáo nói riêng, đồng thời cũng là để răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.
[4]. Về tính đồng phạm và vị trí, vai trò của các bị cáo trong vụ án: Xét các bị cáo T và D đều trực tiếp thực hiện hành vi đánh bạc với lỗi cố ý, trước khi phạm tội các bị cáo đã có sự thống nhất với nhau về cách thức đánh bạc cũng như phương thức thanh toán tiền thắng thua. Nên, vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Đối với bị cáo T là người trực tiếp tham gia đánh bạc dưới hình thức là bán các số lô, số đề trái phép cho bị cáo D và đối tượng khác, nên bị cáo T giữ vai trò thứ nhất. Đối với bị cáo D là người trực tiếp tham gia đánh bạc dưới hình thức là mua các số lô, số đề trái phép của bị cáo T, nên giữ vai trò thứ hai.
[5]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo D có nhân thân tốt. Bị cáo T có nhân thân xấu (Ngày 16-12-2016 có hành vi đánh bạc bị Công an huyện V, tỉnh Nam Định ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng, T đã nộp phạt ngày 05-01-2017).
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo T và D đều pH chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo T và D đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; ngoài ra hoàn cảnh gia đình của 02 bị cáo đều khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú. Do đó, cả 02 bị cáo đều được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6]. Về đường lối xử lý hành vi phạm tội của các bị cáo:
Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của các bị cáo và căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như động cơ, mục đích phạm tội của các bị cáo. Hội đồng xét thấy tội phạm mà các bị cáo T, D đã thực hiện có tích chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định và các bị cáo có khả năng tự cải tạo được, nên không cần thiết pH cách ly các bị cáo ra khỏi môi trường ngoài xã hội một thời gian mà chỉ cần dưới sự quản lý, giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú cùng với những người thân của các bị cáo cũng có thể cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt cả 02 bị cáo hình phạt cải tạo giam giữ là phù hợp với quy định của pháp luật và cũng là để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với những người lần đầu phạm tội và biết ăn năn hối cải.
Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Xét các bị cáo đều là công nhân thu nhập không được ổn định, ngoài ra hoàn cảnh gia đình của các bị cáo đều khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với cả 02 bị cáo và miễn khấu trừ một phần thu nhập cho cả 02 bị cáo là phù hợp.
[7]. Về biện pháp tư pháp: Truy thu sung vào ngân sách Nhà nước toàn bộ khoản tiền mà các bị cáo T và D đã thu lợi bất chính từ việc phạm tội; cụ thể truy thu của bị cáo T số tiền là 25.775.000đ, truy thu của bị cáo D số tiền là 17.200.000đ.
[8]. Về xử lý các vật chứng đã thu giữ:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max màu xanh than, gắn sim số 0986.730.775 thu giữ của Nguyễn Hữu T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 Pro 5G vỏ màu đen, gắn sim số 0879.931.990 thu giữ của Vũ Ngọc D. Xét cả 02 chiếc điện thoại này đều là công cụ, phương tiện mà các bị cáo đã dùng vào việc phạm tội. Do đó, tịch thu bán hoá giá sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A33 5G vỏ màu xanh nhạt, gắn sim số 0394.018.599 thu giữ của Mai Văn H. Xét chiếc điện thoại này là công cụ, phương tiện mà H đã dùng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, khi H bị xử phạt hành chính, cơ quan ra Quyết định xử phạt hành chính chưa xử lý. Nay cần tịch thu bán hoá giá sung vào ngân sách Nhà nước.
[9]. Đối với hành vi đánh bạc của Nguyễn Hữu T với Vũ Ngọc D và Mai Văn H có số tiền đánh bạc dưới 5.000.000đ, chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với D và H với số tiền 350.000đ/người và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T với số tiền 15.000.000đ là phù hợp với quy định của pháp luật.
[10]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Nguyễn Hữu T và Vũ Ngọc D pH nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Giao bị cáo Nguyễn Hữu T cho Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Hào, huyện V, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục.
Bị cáo Nguyễn Hữu T pH thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
Giao bị cáo Vũ Ngọc D cho Ủy ban nhân dân xã Tam Thanh, huyện V, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục.
Bị cáo Phạm Vũ Ngọc D pH thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
(Vật chứng đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02-8-2024 giữa Công an huyện V và của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V).
+ Truy thu của bị cáo Nguyễn Hữu T số tiền là 25.775.000đ (Hai lăm triệu bẩy trăm bẩy lăm nghìn đồng).
+ Truy thu của bị cáo Vũ Ngọc D số tiền là 17.200.000đ (Mười bẩy triệu hai trăm nghìn đồng).
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trường Nam |
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH NAM ĐỊNH về đánh bạc
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
