TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2024/HS-ST
Ngày 25 - 6 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Phong.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lô Văn Tuất và bà Lô Thị Thuý Hà.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lang Thanh Như – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong tham gia phiên toà: Bà Lô Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024, Điểm cầu Trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An. Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 36/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Lương Văn B
(tên gọi khác: Không), sinh ngày 10 tháng 10 năm 1980, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: Bản T, xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Nguyên trồng trọt; trình độ học vấn: Lớp 6/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lương Văn T; con bà: Hà Thị K (Đã chết); vợ: Lương Thị D (Đã ly hôn); con: Có 2 người; tiền án: Ngày 27/9/2022 bị Toà án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 25/12/2023; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 14/11/2001 bị Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 7 năm tù vê tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; ngày 14/4/2017 bị Toà án nhân dân huyện Quế Phong áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đưa vào cơ sở cai nghiện ma tuý bắt buộc với thời gian 18 tháng; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2024. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lương Văn B: Ông Nguyễn Thái Q; Trợ giúp viên trợ giúp pháp lý, chi nhánh trợ giúp pháp lý số 2, thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Trịnh Viết P, sinh năm 1986; trú khối Đ, thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 05/4/2024 Lương Văn B đi lên khu đồi thuộc bản Thanh Phong 1, xã Mường Nọc, huyện Quế Phong mua 02 gói ma tuý với một người không quen biết với giá 1.500.000 đồng. Mua được ma tuý bị cáo đi sang Trung tâm y tế huyện Quế Phong thì bị bắt quả tang. Thu 01 gói chất bột màu trắng và 01 gói bên trong chứa nhiều viên nén màu hồng.
Kết luận giám định số 398/KL- KTHS( Đ2-MT) ngày 10/4/2024 của phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lương Văn B gửi tới giám định là ma túy; loại Heroine (Heroine), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Số chất bột màu trắng thu giữ của Lương Văn B có khối lượng là 2,32 g (Hai phẩy ba mươi hai gam). Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Lương Văn B gửi tới giám định là ma túy; loại Methamphetamine. Số viên nén màu hồng thu giữ của Lương Văn B có tổng khối lượng là 6,49 g (Sáu phẩy bốn mươi chín gam).
Tại phiên tòa bị cáo Lương Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Cụ thể: Ngày 05/4/2024 tại Trung tâm y tế huyện Quế Phong; khối Cỏ Nong, thị trấn Kim Sơn, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An; Lương Văn B đang cất giấu trái phép chất ma tuý thì bị bắt quả tang. Thu 2,32 gam Heroine và 6,49 gam Methamphetamine. Mục đích của bị cáo cất giấu ma tuý là để sử dụng.
Cáo trạng số 40/CT-VKS- QP ngày 29/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lương Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Đối với người bán trái phép chất ma tuý cho bị cáo, do không xác minh được họ tên và địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở để điều tra xử lý.
Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận và đề nghị áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; xử phạt: Bị cáo Lương Văn B từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm 07 tháng tù. Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Người bào chữa không tranh luận về tội danh, đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và xử phạt bị cáo Lương Văn B từ 5 năm 06 tháng đến 6 năm tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quế Phong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Mặc dù không được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép, nhưng ngày 05/4/2024, tại thị trấn Kim Sơn, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, Bị cáo Lương Văn B đang cất giấu trái phép chất ma tuý thì bị bắt quả tang; 2,32 gam Heroine và 6,49 gam Methamphetamine. Tổng cả 2 chất ma tuý là 8,81 gam. Bị cáo tàng trữ ma túy không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Do đó bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, mà còn làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, nòi giống của con người, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng; bị cáo đã bị kết án chưa được xoá án tích; đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: Năm 2001 bị Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 7 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; năm 2017 bị Toà án nhân dân huyện Quế Phong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma tuý bắt buộc. Vì vậy cần xét xử nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo khai báo thành khẩn; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[4] Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong đề nghị xử phạt bị cáo Lương Văn B từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm 07 tháng tù là hợp lý; người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo Lương Văn B từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù là thấp so với khối lượng ma tuý thu giữ và nhân thân của bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Lương Văn B không có tài sản gì đáng giá. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng: Đối với 2,32 gam Heroine, cơ quan cảnh sát điều tra đã lấy đi giám định chất ma tuý 0,19 gam; còn lại 2,13 gam; đối với 6,49 gam Methamphetamine, cơ quan điều tra đã lấy đi giám định chất ma túy 1 gam; còn lại 5,49 gam. Đây là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm n khoản 2 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Phạt Lương Văn B 07 (Bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 05/4/2024.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ một phong bì bên trong đựng 2,13 (Hai phẩy mười ba) gam Heroine và 5,49 (Năm phẩy bốn mươi chín) gam Methamphetamine, mảnh bao ni lông màu hồng, xanh và các vỏ phong bì thu giữ vật chứng ban đầu. Chi tiết vật chứng được ghi cụ thể trong biên bản giao nhận ngày 04/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Phong với Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.
Căn cứ vào Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Lương Văn B phải chịu 200.000 đồng
(Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Lương Văn B có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kê từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Công Phong |
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 25/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
