Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HS-ST

Ngày 25 tháng 4 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đức.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Phương và ông Phạm Phước Cường.
  • Thư ký phiên toà: Ông Đoàn Quốc Đạt, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lý Chí Nam, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HS ngày 10/4/2024, đối với bị cáo:

Phan Thị Kim T, sinh năm 1995, nơi sinh C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ E, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn C, không rõ năm sinh và bà Phan Thị Ngọc C1, sinh năm 1976; chồng, con: chưa có; anh chị em có 02 người, bị cáo là người thứ nhất.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 15/12/2021, Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, kết án 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 28/7/2022, chấp hành xong

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 01/12/2023 cho đến nay;

Bị hại:

  • - Ông Tăng Văn Đ, sinh năm 1957, nơi cư trú: Tổ 06, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang;
  • - Ông Trần Thanh T1, sinh năm 1984, nơi cư trú: tổ B, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Hà Thị N, sinh năm 1954, nơi cư trú: tổ B, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang;
  • - Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1988, nơi cư trú: tổ B, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang;
  • - Huỳnh Văn T2, sinh năm 1986, nơi cư trú: hẻm B, đường C, số D, tổ A, khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang;
  • - Nguyễn Thị L, sinh năm 1960, nơi cư trú: tổ B, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang;
  • - Nguyễn Hoàng L1, sinh năm 1968, nơi cư trú: tổ A, khóm B, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang;
  • - Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1988, nơi cư trú: tổ F, khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang.

Người làm chứng: Lê Công L2, sinh năm 1966, nơi cư trú: tổ F, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ 1: Khoảng 20 giờ ngày 12/10/2023, T đi bộ vào hẻm, tổ F, khóm C, phường C B, thấy xe mô tô biển số 67E1-034.32 của Tăng Văn Đ (trị giá 9.000.000 đồng) đậu trước nhà, gắn sẵn chìa khoá, không người trông giữ, T lén lấy xe chạy đi, bị rơi mất biển số. Sau đó, T sơn lại màu xe, đem bán cho Huỳnh Văn T2, được 2.600.000 đồng, tiêu xài, sử dụng ma tuý hết.

Vụ 2: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 12/11/2023, T đi bộ vào hẻm, đến nhà số A Thủ Khoa N, tổ B, khóm C, phường C, thấy xe mô tô biển số 67E1-161.17 của Trần Thanh T1 (trị giá 8.000.000 đồng) đậu trước nhà, gắn sẵn chìa khoá, không người trông giữ, T lén lấy xe chạy đi, đến nhà Nguyễn Hoàng V, khóm C, phường V, thành phố C gặp V và Phan Văn P, T để lại xe, không nói lấy trộm, nhờ V kêu bán dùm, V đồng ý, T đi về. Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 14/11/2023, T đến nhà V, thấy V kêu bán xe cho Hà Thị N và Nguyễn Văn Đ1 (cháu của N), nên T thỏa thuận bán xe trên cho N và Đ1 được 2.000.000 đồng, T cho V 100.000 đồng, P 300.000 đồng, số tiền còn lại T tiêu xài hết.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Vision, màu đen, không gắn biển số (đã trao trả cho bị hại Tăng Văn Đ); 01 xe mô tô biển số 67E1-161.17 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Nguyễn Hoàng L1 (đã trao trả cho bị hại Trần Thanh T1); 01 đĩa DVD ghi lại hình ảnh Phan Thị Kim T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại Trần Thanh T1 (lưu hồ sơ vụ án); quần áo và mũ bảo hiểm của Phan Thị Kim T sử dụng liên quan đến vụ án (đã bàn giao Cơ quan Thi hành án dân sự).

Căn cứ các Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 199 ngày 01/11/2023 và số 757/KL-ĐG ngày 01/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận:

  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn nâu-bạc-đen, biển số 67E1-034.32, trị giá 9.000.000 đồng (của bị hại Tăng Văn Đ).
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn xanh, biển số 67E1-161.17, trị giá 8.000.000 đồng (của bị hại Trần Thanh T1).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam Phan Thị Kim T, để điều tra xử lý;

Cáo trạng số 25/CT-VKSCĐ-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát đã truy tố Phan Thị Kim T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự,

Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận do cần tiền để mua ma túy sử dụng, nên đã thực hiện hành vi phạm tội, như nội dung vụ án.

Tại phiên tòa,

Bị cáo khai nhận, do cần tiền để mua ma túy sử dụng nên bị cáo đã thực hiện 02 lần hành vi trộm cắp tài sản của Tăng Văn Đ, trị giá 9.000.000 đồng và Trần Thanh T1, trị giá 8.000.000 đồng như nội dung vụ án đã nêu. Bị hại Đ, T1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường. Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Thay mặt Hội đồng xét xử Thẩm phán chủ tọa phiên tòa công bố lời khai người bị hại; người tham gia tố tụng khác vắng mặt phiên tòa;

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội:

Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của bị hại, người tham gia tố tụng khác liên quan đến vụ án cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, nên có cơ sở xác định bị cáo đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của bị hại, lén lút chiếm đoạt tài sản của Tăng Văn Đ, trị giá 9.000.000 đồng và Trần Thanh T1, trị giá 8.000.000 đồng, nên đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội; giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, h, khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Thị Kim T từ 01 (một) năm 6 tháng đến 02 (hai) năm tù.

Về hình phạt bổ sung, do bị cáo không có nghề nghiệp nên đề nghị không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tiếp tục lưu giữ hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD ghi lại hình ảnh bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Đã được xử lý trong giai đoạn điều tra là đúng quy định nên không đề cập đến. Riêng, quần áo và mũ bảo hiểm của Phan Thị Kim T sử dụng liên quan đến vụ án, không giá trị nên tịch thu tiêu hủy

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và tiền bồi thường, người liên quan Huỳnh Văn T2, Nguyễn Văn Đ1 không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã giao dịch nên không đề cập xem xét giải quyết. Riêng, người liên Hà Thị N có yêu cầu bị cáo bồi thường 1.000.000 đồng. Xét yêu cầu của bà N là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về các vấn đề khác: Đối với Huỳnh Văn T2, Nguyễn Hoàng V, Hà Thị N và Nguyễn Văn Đ1, khi mua, bán dùm tài sản cho bị cáo, không biết tài sản do phạm tội mà có, tuy không xử lý, nhưng cần giáo dục công khai tại phiên tòa

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại, người làm chứng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa và đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định vẫn tiến hành xét xử.

Về nội dung,

[3] Hành vi phạm tội:

Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với thời gian, địa điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội; phù hợp với lời khai của bị hại, người tham gia tố tụng khác, vật chứng vụ án cùng các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra và thẩm tra công khai tại phiên tòa, có căn cứ xác định: Khoảng 20 giờ ngày 12/10/2023, lợi dụng sự sơ hở của bị hại Tăng Văn Đ, bị cáo đã lén lút lấy trộm tài sản, trị giá 9.000.000 đồng; khoảng 23 giờ 30 phút ngày 12/11/2023, lợi dụng sự sơ hở của bị hại Trần Thanh T1, bị cáo đã lén lút lấy trộm tài sản trị giá 8.000.000 đồng;

Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, xâm phạm đền quyền sở hữu tài sản của người khác. Do đó cáo trạng số 25/CT-VKSCĐ-HS ngày 28/3/2024 của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt đến 03 năm tù.

[4] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tôi, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo nhận thức được rằng tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của công dân được Nhà nước bảo hộ, mọi hành vi xâm phạm một cách trái pháp luật đều phải bị xử lý nhưng vì xuất phát từ bản tính tham lam, mong muốn có tiền tiêu xài, mua ma túy để sử dụng, bị cáo đã lén chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự xem thường pháp luật của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên, đã bị kết án, chưa xóa án tích, tiếp tục tái phạm, quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, bị cáo đã ra đầu thú và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, học lực thấp, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo trong khi lượng hình.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan T1, Đ1 không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã giao dịch nên không đề cập xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, bà Hà Thị N có yêu cầu bị cáo bồi thường 1.000.000 đồng. Đây là yêu cầu có cơ sở nên Hội đồng xét xử nhận thấy cần chấp nhận theo như đề nghị của Viện kiểm sát.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 106 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét.

  • - Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Vision, màu đen, không gắn biển số; 01 xe mô tô biển số 67E1-161.17 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Nguyễn Hoàng L1. Tất cả đã qua sử dụng, đã trao trả cho bị hại Đ và T1, nên không đề cập giải quyết.
  • - Đối với 01 áo thun tay ngắn tay màu cam, phía trước vùng ngực áo có chữ Angels Palm; 01 quần vải ngắn, chất liệu vải, màu đen ; 01 mũ bảo hiểm màu sơn trắng, trên mũ có hình họa tiết đầu con mèo là trang phục bị cáo dùng vào việc phạm tội, xét tịch thu tiêu hủy;
  • - Đối với 01 đĩa DVD ghi lại hành vi phạm tội của bị cáo. Xét tiếp tục lưu giữ hồ sơ vụ án;
  • [8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được kháng cáo theo luật định.
  • [9] Các vấn đề khác: Việc Huỳnh Văn T2, Nguyễn Hoàng V, Hà Thị N và Nguyễn Văn Đ1, khi mua, bán dùm tài sản cho bị cáo, không biết tài sản do phạm tội mà có, tuy không xử lý, nhưng cần giáo dục công khai tại phiên tòa.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự;
  2. Tuyên bố bị cáo: Phan Thị Kim T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;

    Xử phạt: Bị cáo Phan Thị Kim T 02 (hai) năm tù;

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt 01/12/2023 (ngày một, tháng mười hai, năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015;
    • - Tiếp tục lưu giữ hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD có nội dung ghi lại hành vi phạm tội của bị cáo Phan Thị Kim T;
    • - Tịch thu tiêu hủy do không còn giá trị sử dụng 01 áo thun tay ngắn tay màu cam, phía trước vùng ngực áo có chữ Angels Palm; 01 quần vải ngắn, chất liệu vải, màu đen; 01 mũ bảo hiểm màu sơn trắng, trên mũ có hình họa tiết đầu con mèo;
    • (Theo biên bản giao vật chứng ngày 15/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
  4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự 2015;
  5. Buộc bị cáo Phan Thị Kim T phải bồi thường cho bà Hà Thị N số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng.

  6. Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hpội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  7. Buộc bị cáo Phan Thị Kim T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Buộc bị cáo Phan Thị Kim T phải chịu 300.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  8. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  9. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

    Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh.
  • - Sở Tư pháp.
  • - Viện KSND thành phố.
  • - Nhà Tạm giữ.
  • - Phòng hồ sơ.
  • - Thi hành án DS thành phố.
  • - Bộ phận THA Tòa án.
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú.
  • - Bị cáo.
  • - Bị hại.
  • - Người liên quan.
  • - Lưu hồ sơ.
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Trần Văn Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger