|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 41/2023/HNGĐ - ST Ngày 24/8/2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Chang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Nga;
- Ông Kim Niệm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Phúc Vĩnh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 362/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng N, sinh năm 2002; Có mặt
Địa chỉ: Tổ C, ấp G, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Ông Thế Nhật H, sinh năm 2000; Có mặt
Địa chỉ: Tổ D, ấp G, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị Hồng N trình bày yêu cầu khởi kiện như sau:
Về hôn nhân: Bà N và ông H chung sống với nhau từ năm 2019 và có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương vào năm 2020. Bà N và ông H sống chung với nhau là do hai bên tự nguyện, có tìm hiểu nhau gần mới đi đến hôn nhau, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, gia đình hai bên đều đồng ý, không ai phản đối cả. Sau khi kết hôn thì vợ chồng bà sinh sống cùng cha mẹ chồng được hơn 01 năm. Cuộc sống chung vợ chồng bà bình thường được một thời gian, sau đó vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn. Bà N đã về nhà cha mẹ ruột ở nhưng ông H có nói bà quay về ở chung, ông H hứa thay đổi nhưng được 01 đến 02 ngày lại đi uống rượu như cũ. Cách đây khoảng 07 tháng bà có cãi nhau với ông H về việc ông H không phụ giúp bà về kinh tế, tiền bạc phụ nuôi con nên bà về nhà cha mẹ ruột ở thì ông H không hỏi thăm gì. Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng bà đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông H.
Về con chung: Bà N và ông H có 01 con chung là Thế Nhật H1, sinh ngày 08/10/2020. Hiện nay con chung đang ở với bà N. Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Hiện nay bà đang đi làm thuê cho quán ăn, thu nhập trung bình 6.000.000đ/tháng, đảm bảo đủ điều kiện nuôi con. Về chỗ ở thì hiện tại bà N đang ở cùng chị gái, bà dự định sẽ thuê nhà trọ ở và cho con đi học. Từ khi bà đưa con về nhà cha mẹ ruột ở cho đến nay thì ông H không quan tâm đến, bà vẫn chăm sóc, nuôi con được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được nuôi con, bà không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại bản tự khai và tại phiên tòa, bị đơn ông Thế Nhật H trình bày:
Về hôn nhân: Ông H và bà N chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương năm 2020. Việc chung sống với nhau và đăng ký kết hôn là do ông bà hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc trong 02 năm thì vợ chồng ông có xảy ra mâu thuẫn về vấn đề tiền bạc, vợ ông vay tiền làm công chuyện gì mà ông không rõ, ông hỏi nhưng không nói. Tháng 9 năm 2022, trong khi ông đang đi làm thì vợ ông về nhà cha mẹ ruột ở, khi ông về nhà ông mới biết. Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ông đã trầm trọng, không thể hàn gắn được không thể tiếp tục cuộc sống chung vợ chồng được nên ông đồng ý ly hôn với bà N.
Về con chung: Ông H và bà N có 01 con chung là Thế Nhật H1, sinh ngày 08/10/2020. Hiện con đang ở cùng với bà N. Ông H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung để con được chăm sóc đầy đủ hơn, vì hiện nay bà N không có chỗ ở đang ở cùng nhà chị gái của bà N. Khi ông đến nhà thăm con, ông muốn đón con về nhà ông bà nội chơi bà N không cho. Ông H có việc làm ổn định là công việc lái xe thuê, thu nhập bình quân là 12.000.000đ/tháng. Hiện tại ông đang ở cùng với cha mẹ nên đảm bảo việc chăm sóc con tốt hơn, ông không yêu cầu bà N phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án là đúng quy định của pháp luật. HĐXX thực hiện khai mạc phiên toà, phần thủ tục, phần tranh tụng đều đảm bảo đúng pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trong phần tranh tụng tại phiên tòa của các bên, nhận thấy, về hôn nhân, mâu thuẫn giữa bà N và ông H không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Bị đơn ông H cũng thừa nhận mâu thuẫn hôn nhân không thể hàn gắn. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về việc xin ly hôn. Về con chung, nhận thấy con T Nhật Huy từ khi sinh ra được bà N chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến hiện tại cháu vẫn bình thường, bà N là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nhiều hơn. Về phía ông H cho rằng con Thế Nhật H1 không được chăm sóc tốt, không đảm bảo về mọi mặt. Tuy nhiên, những lời ông trình bày không có chứng cứ nào để chứng minh. Hiện tại con Thế Nhật H1, sinh ngày 08/10/2020 chưa đủ 36 tháng tuổi. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị giao con Thế Nhật H1, sinh ngày 08/10/2020 cho nguyên đơn bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận việc nguyên đơn bà N không yêu cầu bị đơn ông H phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung, nợ chung các bên không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét. Từ những phân tích trên, đề nghị HĐXX xem xứt, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
-
[1] Về tố tụng: Bà N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H, yêu cầu được nuôi con chung. Bị đơn ông H hiện cư trú tại xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương nên đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
-
[2] Về hôn nhân: Nguyên đơn bà N và bị đơn ông H tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2019 và có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận kết hôn số 24, ngày 09/11/2020. Bà N và ông H đủ điều kiện kết hôn theo Điều 8 và có đăng ký kết hôn theo Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Nguyên đơn và bị đơn thừa nhận cuộc sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, không thể hàn gắn đoàn tụ gia đình được và hiện nay không còn sống chung với nhau. Bị đơn đồng ý ly hôn theo yêu cầu của nguyên đơn. HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa, bà N và ông H đồng ý ly hôn nên HĐXX ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Lê Thị Hồng N và ông Thế Nhật H.
-
[3] Về con chung: Nguyên đơn bà N và bị đơn ông H có 01 con chung là Thế Nhật H1, sinh ngày 08/10/2020. Hiện nay con chung Thế Nhật H đang sống cùng bà N. Nguyên đơn và bị đơn đều có việc làm, thu nhập ổn định nhưng chưa có chỗ ở riêng, nguyên đơn bà N ở với chị gái, bị đơn ông H ở với cha mẹ. Bà N có việc làm, thu nhập trung bình 6.000.000đ/tháng, bị đơn ông H có việc làm thu nhập trung bình là 12.000.000đ/tháng, đảm bảo được điều kiện nuôi con nên cả hai đều có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. HĐXX xét thấy con chung của bà N và ông H là Thế Nhật H1, sinh ngày 08/10/2020, còn nhỏ (dưới 36 tháng tuổi), bà N đang trực tiếp nuôi con. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung dưới 36 tháng tuổi, căn cứ khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX xem xét giao con chung Thế Nhật H1, sinh ngày 08/10/2020 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Bà N không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX ghi nhận sự tự nguyện của bà N về việc không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
-
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.
-
[5] Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận.
-
[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 246, 264, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng N đối với bị đơn ông Thế Nhật H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.
-
Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Lê Thị Hồng N và ông Thế Nhật H.
-
Về con chung: Giao con chung Thế Nhật H1, sinh ngày 08/10/2020 cho bà Lê Thị Hồng N trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì quyền lợi hợp pháp, chính đáng của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi đương sự có đơn yêu cầu phù hợp quy định của pháp luật.
-
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
-
Về án phí: Bà Lê Thị Hồng N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0008711 ngày 15/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
-
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vũ Thị Chang |
Bản án số 41/2023/HNGĐ - ST ngày 24/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 41/2023/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Hồng N - Thế Nhật H ly hôn
