|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2024/DS-PT
Ngày 24 tháng 6 năm 2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Giang.
Các Thẩm phán:
Bà Điêu Thị Bích Lượt;
Ông Nguyễn Quang Vũ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa:
Ông Hoàng Thanh Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 19/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2024/DS-ST ngày 08/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 21/2024/QĐ-PT ngày 25/3/2024 và quyết định hoãn phiên tòa giữa các đương sự:
- -Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1985
- Địa chỉ: Khu A, xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ;
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị H: Ông Cấn Cao Q, sinh năm 1983 và bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1991 thuộc Văn phòng L – Đoàn luật sư thành phố H; Địa chỉ: P, tầng E, số B L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
- - Bị đơn: Bà Trần Thị Minh H1, sinh năm 1964
- Địa chỉ: Khu A, xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ;
- Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Nguyễn Thu T1, sinh năm 1986
- Địa chỉ: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ;
- -Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + UBND huyện Y, tỉnh Phú Thọ
- Đại diện theo pháp luật: Ông Hà Việt H2 – Chức vụ: Chủ tịch UBND huyện Y.
- Đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Hùng V - Chức vụ: Trưởng phòng Đăng ký đất đai – Văn phòng Đ và Phát triển quỹ đất huyện Y;
- + UBND xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ
- Đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Xuân H3 – Chức vụ: Chủ tịch UBND xã N.
- Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T2 – Chức vụ: Cán bộ địa chính xã N;
- + Ông Phùng Minh P, sinh năm 1970
- Địa chỉ: Khu A, xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ;
- + Ông Vũ Quang T3, sinh năm 1982
- Địa chỉ: Khu A, xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ;
- + Ông Vũ Hữu C, sinh năm 1958
- Địa chỉ: Khu A, xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ.
Người kháng cáo: Chị Trần Thị H – nguyên đơn.
(Chị H, bà H1, bà T1, ông Q, ông T3, ông C có mặt; các đương sự khác vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, những lời trình bày tiếp theo tại Tòa án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị H trình bày:
Năm 2012 chị nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất (QSDĐ) của bà H1 thửa đất có chiều dài theo mặt đường là 10m tại khu A, xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ do chị nhờ ông C là bố nuôi trao đổi thỏa thuận với bà H1 về giá cả và thanh toán cho bà H1 để mua đất hộ chị chứ chị không trực tiếp trao đổi với bà H1; Sau khi ông C trao đổi mua bán bà H1 nhất trí đã chỉ đất tại thực địa cho ông C, sau đó chị đã làm bờ rào xây bao quanh thửa đất, cụ thể: Tại Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 18/4/2012 đã ghi rõ bà H1 chuyển nhượng cho chị H diện tích 140m² tại thửa số 182 tờ bản đồ 50, địa chỉ đất tại khu A, xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ và đã được các cơ quan có thẩm quyền cho thực hiện hợp đồng; Ngày 17/5/2012 chị H được UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số vào số CH 00172 diện tích 140m² thửa đất 182, tờ bản đồ 50, bản đồ 299, địa chỉ thửa đất tại khu A xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ, nguồn gốc đất do nhận chuyển nhượng của bà Trần Thị H1, nay giấy chứng nhận này đã được UBND huyện Y để cấp đổi giấy chứng nhận vào năm 2015, cụ thể: Năm 2015 chị đề nghị được cấp đổi thành thửa đất số 165, tờ bản đồ 134, địa chỉ khu A, xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ, diện tích 306,9m², tại GCNQSDĐ số BY879920, số vào số CH 02499, UBND huyện Y cấp ngày 07/7/2015 (trong đó có diện tích 140m² là mua của bà H1 còn 166,9m² là diện tích đất chị tự khai phá). Nay chị H xác định sau khi bà H1 chuyển nhượng cho chị bà H1 đã giao thửa đất không có giấy chứng nhận cho chị (C1 là thửa đất chị đã xây bờ rào),
còn thửa đất trong bìa đỏ của chị hiện nay bà H1 không giao đất cho chị; Nay chị H đề nghị Tòa án buộc bà H1 phải thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cụ thể là bà H1 phải: Giao diện tích đất bà H1 đã chuyển nhượng cho chị là 140m² đất theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/4/2012 mà chị và bà H1 đã ký kết với nhau và đã được UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên chị (Không phải thửa đất chị đã xây bờ rào); Do cấp đổi giấy chứng nhận năm 2015 nên đã thành thửa đất số 165, tờ bản đồ 134, địa chỉ khu A, xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ, diện tích 306,9m², nhưng do chị nhận chuyển nhượng của bà H1 140m² năm 2012 là thửa đất ghi trong Hợp đồng rất rõ ràng nên nay chị đề nghị Tòa án buộc bà H1 phải thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà hai bên ký kết với nhau ngày 18/4/2012 giao cho chị diện tích đất 140m², còn diện tích đất do chị khai phá là 166,9 m² (Nằm trong tổng diện tích 306,9m²) mặc dù hiện nay bà H1 đang lần chiếm của chị nhưng nay chị không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa sơ thẩm chị H trình bày chị khởi kiện yêu cầu bà H1 phải thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quá trình giải quyết bà H1 yêu cầu Hội đồng xét xử tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, chị không nhất trí tuyên bố hợp đồng vô hiệu, nếu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì chị đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết về hậu quả của hợp đồng vô hiệu, buộc bà H1 phải trả lại tiền cho chị theo giá mà Hội đồng định giá đã xác định; Chị H trình bày thực tế thì chị và bà H1 không bàn bạc mua bán với nhau diện tích đất ghi trong hợp đồng đó mà do chị nhờ ông C mua hộ và làm thủ tục hộ, nhưng ông C bàn bạc mua đất ở vị trí chị đã xây bờ rào, nay bìa lại được cấp ở vị trí khác, nếu bà H1 không trả tiền cho chị (Tiền chị nhờ ông C trả hộ) thì chị sẽ khởi kiện yêu cầu bà H1 phải thực hiện Hợp đồng thỏa thuận miệng với ông C về việc bà H1 chuyển nhượng cho chị diện tích đất mà chị nhờ ông C mua hộ, vị trí đất đó chị đã làm tường rào và sử dụng từ năm 2012.
Chị H trình bày, Tòa án đã thông báo về kết luận giám định của cơ quan chuyên môn về chữ ký trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/4/2012 không phải của bà H1 ký, nội dung này chị không biết ai ký chị chỉ biết bà H1 chuyển nhượng đất cho chị thông qua ông C là có thật mà ông C thì nhận chuyển nhượng đất từ bà H1 hộ chị là có thật và chị đưa tiền cho ông C trả tiền cho bà H1 là có thật, chị là người ký bên nhận chuyển nhượng trong hợp đồng là có thật còn ai ký bên chuyển nhượng thì chị không biết nên chị đề nghị Tòa án xem xét.
Chị H còn trình bày về việc chị H nhờ ông C mua hộ đất của bà H1, chị đưa tiền cho ông C và nhờ ông C trả tiền cho bà H1, chị nhờ ông C nộp hồ sơ hợp đồng để làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại UBND xã N là có thật nhưng nay chị không yêu cầu ông C phải thực hiện nghĩa vụ gì với chị vì ông C là bố nuôi của chị nên chị hoàn toàn tin tưởng.
Bị đơn bà Trần Thị Minh H1 và người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Bà H1 không nhất trí yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà H1 và người đại diện cho rằng bà không chuyển nhượng diện tích đất diện tích 140m² nêu trên cho chị H như chị H đã trình bày và cũng không nhận khoản tiền nào của chị H. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền vớiđất do chị H xuất trình có tên giữa bà và chị H ngày 18/4/2012 ghi trong hợp đồng lập tại UBND xã N bà không được biết và không được thỏa thuận và giao kết; Toàn bộ hồ sơ liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà và chị H ngày 18/4/2012 do chị H xuất trình, đều không phải chữ ký của bà.
Bà H1 xác định bà chỉ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Hữu C2, nhưng không phải là vị trí đất mà hiện nay chị H khởi kiện, bà và ông C2 có trao đổi bằng miệng với nhau, bà có nhận tiền của ông C2 và chuyển nhượng cho ông C2 140m² ở khu A xã N có chiều dài theo mặt đường là 10m, vị trí thửa đất chuyển nhượng không phải là diện tích đất, thửa đất ghi trong Hợp đồng ngày 18/4/2012, diện tích đất bà chuyển nhượng cho ông C2 trước đây bà trực tiếp sử dụng từ lâu đời nhưng chưa được nhà nước hợp thức cấp giấy chứng nhận, diện tích đất đó ông C2 đã làm bờ rào xây và sử dụng đất từ năm 2012, việc chuyển nhượng đất giữa bà và ông C2 chưa làm thủ tục gì tại cơ quan nhà nước và không viết giấy tờ gì với nhau, nay bà thấy chị H có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi diện tích đất nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà là hoàn toàn không có thật vì bà chưa bao giờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho chị H do đó toàn bộ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/4/2012 do chị H cung cấp là giấy tờ giả.
Bà H1 và người đại diện theo ủy quyền có đơn phản tố đề nghị hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có ghi tên bà H1 và chị H ngày 18/4/2012 được lập tại UBND xã N và hủy quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng dụng đất số BY879920, UBND huyện Y cấp ngày 07/7/2015 cho bà H (thửa đất số 165, tờ bản dồ 134, địa chỉ khu A, xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ, diện tích 306,9m²); Vì diện tích đất 140m² bà không chuyển nhượng cho chị H, diện tích đất còn lại là thuộc quyền sử dụng của bà đã được cấp giấy CNQSDĐ số vào số 01032.QSDĐ, UBND huyện Y cấp ngày 02/8/2004 tên Trần Thị Minh H1 diện tích 506m² tại thửa 91b tờ bản đồ 50 địa chỉ thửa đất “xã N huyện Y, tỉnh Phú Thọ”; Năm 2015 UBND huyện Y tự điều chỉnh giảm diện tích và cấp đổi GCNQSDĐ của bà thành GCNQSDĐ số BY 026756 số vào sổ CH 03109 ngày 26/10/2015 thửa 141 tờ bản đồ 134 diện tích 243,6m² địa chỉ thửa thửa đất “Khu 16 xã N huyện Y, tỉnh Phú Thọ” đã bị thiếu diện tích của bà, nhà nước cấp đổi bìa và chỉnh giảm bà không biết nên chưa yêu cầu và không đề nghị xem xét trong vụ án này.
Quá trình giải quyết và tại phiên tòa sơ thẩm bà H1 và người đại diện theo ủy quyền giữ nguyên quan điểm không nhất trí yêu cầu khởi kiện của chị H và có ý kiến thay đổi nội dung yêu cầu phản tố, cụ thể:
Đề nghị Tòa án xem xét làm rõ trình tự thủ tục tách thửa liên quan đến diện tích đất 140m² để UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Trần Thị H không đúng trình tự thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đối với Thửa đất 182, tờ bản đồ 50, bản đồ 299; diện tích 140m², ngày 17/5/2012 UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số vào sổ CH 00172 tên chị H.
- Thửa đất số 165, tờ bản đồ 134, địa chỉ khu A, xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ, diện tích 306,9m² (Trong đó có 140m² tranh chấp hiện nay), tại GCNQSDĐ số BY879920, số vào sổ CH 02499, UBND huyện Y cấp ngày 07/7/2015 tên chị H.
Do chị H và các cơ quan có thẩm quyền cho chị H thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/4/2012 không đúng quy định, bà không được ký hợp đồng nên nay đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ghi tên bà và chị H ngày 18/4/2012 là hợp đồng vô hiệu toàn bộ và không giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu; Đề nghị Tòa án yêu cầu UBND huyện Y giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY879920, UBND huyện Y ngày 07/7/2015 cấp cho bà H (thửa đất số 165, tờ bản đồ 134, địa chỉ khu A, xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ, đối với diện tích 140m² nằm trong tổng diện tích 306,9m²); Vì diện tích đất 140m² bà không chuyển nhượng cho chị H nên bà yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu, còn diện tích đất 166,9 m² là đất có nguồn gốc thuộc quyền sử dụng của bà nhưng do chị H lấn chiếm đề nghị hợp thức đã được cấp giấy chứng nhận tên chị H nên bà sẽ khởi kiện bằng vụ án khác mà không đề nghị Tòa án giải quyết diện tích đất 166,9 m² trong vụ án này.
Quá trình giải quyết vụ án những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trình bày:
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ UBND huyện Y, người đại diện xin vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã trình bày trong hồ sơ vụ án có nội dung: Căn cứ vào hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị H và bà H1 tại Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 18/4/2012 bà H1 chuyển nhượng cho chị H diện tích 140m² tại thửa số 182 tờ bản đồ 50, địa chỉ thửa đất khu 16 xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ cho bà H là đủ điều kiện theo điều 106 Luật đất đai 2003, ngày 17/5/2012 UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số vào sổ CH 00172 tên chị Trần Thị H.
+ Năm 2015 diện tích đất trên được UBND huyện Y cấp đổi thành thửa đất số 165, tờ bản đồ 134, địa chỉ khu A, xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ diện tích 306,9m², tại GCNQSDĐ số BY879920, số vào sổ CH 02499, UBND huyện Y cấp ngày 07/7/2015 trong đó có diện tích 140m² là nhận chuyển nhượng của bà H1 còn 166,9m² là đất trồng cây lâu năm; Việc UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Trần Thị H được thực hiện đúng quy định của Pháp luật; Nay chị H và bà H1 tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bà H1 đề nghị hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, UBND huyện Y không yêu cầu giải quyết gì về quyền lợi.
+UBND xã N, huyện Y, người đại diện xin vắng mặt tạiphiên tòa nhưng đã trình bày trong hồ sơ vụ án có nội dung: Căn cứ vào hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị H và bà H1 ngày 18/4/2012 bà H1 chuyển nhượng cho chị H diện tích 140m² tại thửa số 182, tờ bản đồ 50UBND xã N đã thực hiện cho các bên thực hiện hợp đồng và đã được UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, năm 2015 diện tích đất trên được UBND huyện Y cấp đổi thành thửa đất số 165, tờ bản đồ 134, địa chỉ khu A, xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ, diện tích 306,9m² và chị H đã được UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc xác nhận hồ sơ cho các đương sự thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại các cơ quan có thẩm quyền được thực hiện theo quy định của pháp luật. Nay bà H và bà H1 tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bà H1 đề nghị hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, UBND xã N không yêu cầu giải quyết gì về quyền lợi.
+ Ông Vũ Quang T3 là cán bộ địa chính xã N tại thời điểm năm 2012 có đề nghị xin vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã trình bày trong hồ sơ vụ án có nội dung: Thời điểm năm 2012 ông làm cán bộ địa chính xã N có hướng dẫn bà H và bà H1 làm hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cụ thể là Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/4/2012, sau đó các bên thỏa thuận ký kết với nhau, việc các bên ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/4/2012 giữa bà H và bà H1 là do các bên tự giao kết với nhau không có sự chứng kiến của cán bộ địa chính là ông và đại diện UBND xã N, do các đương sự tự thỏa thuận ký kết hợp đồng sau đó họ nộp cho ông và ông trình hồ sơ đến UBND xã N và đã được chủ tịch UBND xã N thời điểm đó ký xác nhận hồ sơ và chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền thực hiện thực hiện hợp đồng. Nay bà H và bà H1 tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của Pháp luật, ông không yêu cầu giải quyết gì về quyền lợi.
+ Ông Phùng Minh P là Chủ tịch UBND xã N tại thời điểm năm 2012 có đề nghị xin vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã trình bày trong hồ sơ vụ án có nội dung: Thời điểm năm 2012 ông giữ chức vụ Chủ tịch UBND xã N có ký xác nhận hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định, cụ thể theo báo cáo của cán bộ chuyên môn thì hồ sơ đã đảm bảo, ông đã ký hồ sơ và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/4/2012 giữa chị H và bà H1, được cơ quan có thẩm quyền cho thực hiện và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H. Nay bà H và bà H1 tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, ông không yêu cầu giải quyết gì về quyền lợi.
+ Ông Vũ Hữu C có đề nghị xin vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã trình bày trong hồ sơ vụ án có nội dung: Ông nhận chị H là con nuôi, năm 2012 chị H nhờ ông có trao đổi với chị H1 để mua hộ chị H một thửa đất 140m² tại khu 16 xã N có chiều mặt đường là 10m, số tiền là 120.000.000₫, việc ông mua đất và trả tiền cho bà H1 hai bên chỉ nói bằng miệng với nhau không có giấy tờ gì, diện tích đất ông mua hộ chị H không phải diện tích đất mà hiện nay chị H với bà H1 đang tranh chấp trong Hợp đồng chuyển nhượng và tại thực địa, diện tích đất ông mua hộ chị H hiện nay chị H đã làm bờ rào xây và đang sử dụng, chứ không phải diện tích đất chị H đã được cấp giấy chứng nhận và đang có tranh chấp với bà H1; Nay ông mới biết bà H1 chuyển nhượng đất cho chị H do ông mua hộ năm 2012 là đất bà H1 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với bản Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/4/2012 ông C xác định ông là người cầm bản hợp đồng từ UBND xã N thông qua khu hành chính về đưa cho bà H1 và chị H sau đó ông là người nộp lên xã để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị H, trong hợp đồng đó những ai ký và ký ở đâu thì ông không biết. Nay bà H và bà H1 tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng dụng đất, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, ông không yêu cầu giải quyết gì về quyền lợi.
+ Người làm chứng ông Nguyễn Văn T4 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã trình bày trong hồ sơ có nội dung: Ông T4 xác định ông là người có đất chuyển nhượng cho bà H1 506 m² bà H1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã quyết định xem xét thẩm định tại chỗ; định giá tài sản, đo vẽ sơ đồ diện tích đất mà các bên có tranh chấp và trưng cầu giám định chữ ký chữ viết trong Hợp đồng chuyển nhượng.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ xác định được thửa đất có tranh chấp diện tích là 140m² tại thửa số 165 tờ bản đồ số 134, địa chỉ khu A xã N, huyện Y đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chị H, thực tế bà H1 vẫn đang sử dụng.
Tòa án đã trưng cầu giám định với nội dung chữ ký, chữ viết của bà H1 trong Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 18/4/2012 với chữ ký, chữ viết của bà H1 trên các tài liệu khác với thời gian gần nhất với thời gian ghi trong Hợp đồng; Kết quả trưng cầu giám định: Tại kết luận số 1216/KLGĐ-PC09 ngày 19/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: Chữ ký đứng tên Trần Thị H1 và các chữ “Trần Thị H1” dưới mục (Bên A) trên “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” tài liệu cần giám định ký hiệu A) so với các chữ ký đứng tên Trần Thị H1, Trần Thị Minh H1 và các chữ “Trần Thị H1; Trần Thị Minh H1” dưới mục (Đại diện bên A; Người vay vốn; Các đương sự tham gia phiên họp; Người làm đơn; Đương sự) trên “Hợp đồng kinh tế; Sổ vay vốn; Biên bản hòa giải; Đơn phản tố; Biên bản định giá tài sản” tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M1,M2,M3,M4, M5) là không phải do cùng một người ký và viết ra.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị H còn xác định diện tích đất mà chị nhờ ông C mua hộ, hiện nay chị đã làm bờ rào xây ở một vị trí khác, còn diện tích đất mà UBND huyện cấp giấy CNQSDĐ cho chị ở một vị trí khác, nhưng vì năm 2012 bà H1 chuyển nhượng cho chị (thông qua ông C) diện tích đất tại nơi chị đã làm bờ rào là chưa có giấy chứng nhận QSDĐ nên nay chị H yêu cầu bà H1 phải chuyển nhượng cho chị diện tích đất đã ghi trong giấy chứng nhận QSDĐ mà nhà nước đã cấp giấy cho chị, nên chị H yêu cầu bà H1 phải giao đất cho chị theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/4/2012.
Phía bị đơn bà H1 cũng xác định bà có bán cho ông C diện tích đất ở vị trí mà ông C trình bày là chị H làm bờ rào xây (Bà H1 xác định việc chị H làm bờ rào xây là do nay ông C nói thì bà biết) chứ bà chưa bao giờ giao dịch chuyển nhượng đất với chị H. Việc bà chuyển nhượng đất cho ông C và bà nhận tiền của ông C hai bên chỉ nói bằng miệng với nhau không có giấy tờ gì nhưng đến nay lại thấy sự việc Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/4/2012 đối với diện tích mà nay chị H tranh chấp vì vậy bà H1 yêu cầu Tòa án tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/4/2012 vô hiệu toàn bộ.
Tại Bản án số 01/2024/DS-ST ngày 08/01/2024, Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39, khoản 1 điều 147, khoản 1 điều 157, khoản 1 điều 165, khoản 2 điều 161, khoản 1 điều 162 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ điều 117, điều 122, điều 123, điều 131, điều 132, điều 500, điều 502, điều 503, điều 688 và điều 357 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ điểm b khoản 2 điều 203 Luật Đất đai.
Căn cứ khoản 3, khoản 5 điều 26 Nghị quyết 326 của UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và điều 26 Luật Thi hành án Dân sự.
Xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị H khởi kiện bà Trần Thị Minh H1 về việc tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Yêu cầu bà Trần Thị Minh H1 thực hiện hợp đồng phải giao đất cho chị Trần Thị H theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/4/2012);
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bà Trần Thị Minh H1 đối với chị Trần Thị H về việc bà Trần Thị Minh H1 phản tố đề nghị Tòa án tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/4/2012 là vô hiệu toàn bộ.
- Tuyên bố giao dịch dân sự là Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 18/4/2012, trong hợp đồng ghi nội dung được lập tại UBND xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ, ghi tên Trần Thị H1, Trần Thị H, được UBND xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ chứng thực số 182, quyển số 03 ngày 18/4/2012, về việc chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất 140m², tại thửa đất số 182, tờ bản đồ số 50 là hợp đồng vô hiệu toàn bộ; Diện tích đất ghi trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/4/2012 đã được UBND huyện Y, tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 879920, số vào sổ CH 02499 ngày 07 tháng 7 năm 2015 đứng tên bà Trần Thị H, địa chỉ thửa đất khu 16 xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ.
- Kiến nghị UBND huyện Y, tỉnh Phú Thọ thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY879920, số vào sổ CH 02499, UBND huyện Y, tỉnh Phú Thọ cấp ngày 07/7/2015 tên bà Trần Thị H đối với diện tích đất 140m² nằm trong tổng diện tích 306.9m², tại thửa đất số 165, tờ bản đồ số 134, địa chỉ thửa đất khu 16 xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; Mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn; Thời hạn sử dụng: Lâu dài; Hình thức sử dụng: Sử dụng riêng.
- Về chi phí tố tụng: Buộc chị Trần Thị H phải chịu số tiền chi phí thẩm định tại chỗ: 1.400.000đ, chi phí định giá tài sản: 600.000đ, chi phí đo đạc 18.000.000đ; Tổng là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng); Xác nhận chị Trần Thị H đã nộp đủ. Buộc chị Trần Thị H có nghĩa vụ thanh toán cho bà Trần Thị Minh H1 số tiền chi phí giám định là 3.000.000₫ (Ba triệu đồng).
- Bà Trần Thị Minh H1 có quyền được nhận số tiền 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) do chị Trần Thị H thanh toán.
- Về án phí sơ thẩm:
Chị Trần Thị H phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch do yêu cầu khởi kiện không được Tòa án chấp nhận là 300.000₫ và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch do yêu cầu phản tố của bà Trần Thị Minh H1 được Tòa án chấp nhận là 300.000đ; Tổng số tiền án phí dân sự sơ thẩm chị Trần Thị H phải chịu là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền chị Trần Thị H đã nộp tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2020/0008543 ngày 07/10/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ; Buộc chị Trần Thị H còn phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng);
Bà Trần Thị Minh H1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2020/0008585 ngày 08/12/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đối với các trường hợp cơ quan thi hành án dân sự có quyền chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi thi hành xong; lãi xuất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 điều 468 Bộ luật Dân sự; Nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật Dân sự.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, bản thân chị H cũng thừa nhận việc Tòa án tuyên hợp đồng ngày 18/4/2012 vô hiệu là đúng, chị rút nội dung kháng cáo này và chỉ kháng cáo về giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của chị Trần Thị H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 08/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Kháng cáo của chị Trần Thị H trong hạn luật định, được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo: Chị H kháng cáo đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị, buộc bà Trần Thị Minh H1 phải thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/4/2012 và giao cho chị diện tích 140m² đất đã chuyển nhượng cho chị theo hợp đồng ngày 18/4/2012.
[2.1] Xét hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/4/2012 giữa chị Trần Thị H và bà Trần Thị Minh H1:
Điều 117 của Bộ luật Dân sự quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:
“1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.”
Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, bà Trần Thị Minh H1 – bên chuyển nhượng trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/4/2012 trình bày bà không biết về nội dung hợp đồng và không ký vào hợp đồng nêu trên. Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành trưng cầu giám định đối với chữ ký, chữ viết của bà H1 trong Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 18/4/2012 và tại kết luận số 1216/KLGĐ-PC09 ngày 19/9/2023, Phòng K - Công an tỉnh P đã kết luận: Chữ ký đứng tên Trần Thị H1 và các chữ “Trần Thị H1” trên “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” không phải là chữ ký, chữ viết của bà Trần Thị H1.
Những người trực tiếp thực hiện thủ tục chứng thực hợp đồng thời điểm đó tại UBND xã N và ông Vũ Quang T3 và ông Phùng Minh P đều thừa nhận khi chứng thực hợp đồng thì không chứng kiến việc chị H, bà H1 ký tên vào hợp đồng mà nhận hợp đồng đã có đầy đủ chữ ký của 2 bên từ trước.
Về đối tượng của hợp đồng: cả chị H, bà H1 và ông Vũ Hữu C đều xác định, diện tích đất mà chị H nhờ ông C hỏi mua của bà H1 không phải là diện tích đất 140m² thuộc thửa đất số 182, tờ bản đồ số 50 nay là thửa đất số 165, tờ bản đồ số 134 tại khu A, xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ mà chị H được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ ngày 17/5/2012. Diện tích đất ông C hỏi mua và được bà H1 đồng ý chuyển nhượng là 140m² đất ở vị trí khác, chưa được cấp GCNQSDĐ. Sau khi ông C và bà H1 thỏa thuận miệng về việc mua bán đất, bà H1 đã chỉ vị trí đất cho ông C, ông C đã thông báo lại với chị H, chị H đã nhận đất, xây bờ rào và đã sử dụng từ năm 2012 đến nay. Như vậy, đối tượng của giao dịch chuyển nhượng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H1 và chị H trên thực tế không phải là đối tượng của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/4/2012.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 18/4/2012 vô hiệu toàn bộ, từ đó không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H và chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Trần Thị Minh H1 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bản thân chị H cũng thừa nhận việc Tòa án tuyên hợp đồng ngày 18/4/2012 vô hiệu là đúng, chị rút nội dung kháng cáo này và chỉ kháng cáo về giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu.
[2.2] Về giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu:
Điều 131 Bộ luật Dân sự quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu:
"[...]
2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả."
Đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/4/2012, đối tượng của hợp đồng là diện tích 140m² đất thuộc thửa đất số 182, tờ bản đồ số 50 nay là thửa đất số 165, tờ bản đồ số 134 tại khu A, xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ hiện nay bà H1 chưa giao cho chị H mà bà H1 vẫn đang sử dụng. Về khoản tiền chuyển nhượng đất, không có căn cứ để xác định chị H đã giao bất kỳ khoản tiền nào cho bà H1 để nhận chuyển nhượng 140m² đất nêu trên. Bà H1 thừa nhận có nhận tiền của ông C giao nhưng số tiền đó không phải để thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/4/2012, ông C và chị H xác định chị H giao tiền cho bà H1 để nhận chuyển nhượng 140m² đất mà ông C đã hỏi mua của bà H1 và chị H đã xây tường rào, sử dụng từ năm 2012 chứ không phải để thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/4/2012. Do đó, không đủ cơ sở để xác định giữa các bên trong hợp đồng ngày 18/4/2012 có nhận đất hoặc tiền của nhau nên không thể giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 131 Bộ luật Dân sự trong vụ án này. Nếu sau này các bên có đủ căn cứ thì có quyền khởi kiện để được xem xét giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật. Nội dung kháng cáo này của chị H không được chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Kháng cáo không được chấp nhận nên chị Trần Thị H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- [1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của chị Trần Thị H.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 01/2024/DS-ST ngày 08/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39, khoản 1 điều 147, khoản 1 điều 157, khoản 1 điều 165, khoản 2 điều 161, khoản 1 điều 162 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ điều 117, điều 122, điều 123, điều 131, điều 132, điều 500, điều 502, điều 503, điều 688 và điều 357 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ điểm b khoản 2 điều 203 Luật Đất đai.
Căn cứ khoản 3, khoản 5 điều 26 Nghị quyết 326 của UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và điều 26 Luật Thi hành án Dân sự.
Xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị H khởi kiện bà Trần Thị Minh H1 về việc tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Yêu cầu bà Trần Thị Minh H1 thực hiện hợp đồng phải giao đất cho chị Trần Thị H theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/4/2012);
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bà Trần Thị Minh H1 đối với chị Trần Thị H về việc bà Trần Thị Minh H1 phản tố đề nghị Tòa án tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/4/2012 là vô hiệu toàn bộ.
- Tuyên bố giao dịch dân sự là Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 18/4/2012, trong hợp đồng ghi nội dung được lập tại UBND xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ, ghi tên Trần Thị H1, Trần Thị H, được UBND xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ chứng thực số 182, quyển số 03 ngày 18/4/2012, về việc chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất 140m², tại thửa đất số 182, tờ bản đồ số 50 là hợp đồng vô hiệu toàn bộ; Diện tích đất ghi trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/4/2012 đã được UBND huyện Y, tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 879920, số vào sổ CH 02499 ngày 07 tháng 7 năm 2015 đứng tên bà Trần Thị H, địa chỉ thửa đất khu 16 xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ.
- Kiến nghị UBND huyện Y, tỉnh Phú Thọ thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY879920, số vào sổ CH 02499, UBND huyện Y, tỉnh Phú Thọ cấp ngày 07/7/2015 tên bà Trần Thị H đối với diện tích đất 140m² nằm trong tổng diện tích 306.9m², tại thửa đất số 165, tờ bản đồ số 134, địa chỉ thửa đất khu 16 xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; Mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn; Thời hạn sử dụng: Lâu dài; Hình thức sử dụng: Sử dụng riêng.
- Về chi phí tố tụng: Buộc chị Trần Thị H phải chịu số tiền chi phí thẩm định tại chỗ: 1.400.000đ, chi phí định giá tài sản: 600.000đ, chi phí đo đạc 18.000.000đ; Tổng là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng); Xác nhận chị Trần Thị H đã nộp đủ. Buộc chị Trần Thị H có nghĩa vụ thanh toán cho bà Trần Thị Minh H1 số tiền chi phí giám định là 3.000.000₫ (Ba triệu đồng).
- Bà Trần Thị Minh H1 có quyền được nhận số tiền 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) do chị Trần Thị H thanh toán.
- Về án phí sơ thẩm:
Chị Trần Thị H phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch do yêu cầu khởi kiện không được Tòa án chấp nhận là 300.000₫ và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch do yêu cầu phản tố của bà Trần Thị Minh H1 được Tòa án chấp nhận là 300.000đ; Tổng số tiền án phí dân sự sơ thẩm chị Trần Thị H phải chịu là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền chị Trần Thị H đã nộp tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2020/0008543 ngày 07/10/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ; Buộc chị Trần Thị H còn phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng);
Bà Trần Thị Minh H1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2020/0008585 ngày 08/12/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đối với các trường hợp cơ quan thi hành án dân sự có quyền chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi thi hành xong; lãi xuất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 điều 468 Bộ luật Dân sự; Nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật Dân sự.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Án phí phúc thẩm: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị H đã nộp tại Biên lai số 0006362 ngày 18/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hà Giang |
Bản án số 41/2024/DS-PT ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 41/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị H - Trần Thị Minh H2 - Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
