Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲ CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HS-ST

Ngày 24/6/2024.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lô Xuân Diệu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Phan Bá Lịch .
Bà: Hà Thị Ngọc Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tăng Thành Vương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2024/TLST-HS ngày 29/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Lữ Văn C - Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1993 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Nơi cư trú: bản Khứm, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 7/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lữ Văn H và bà Lữ Thị C1; Vợ: Lương Thị T; con: 03 người; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 06/7/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 20 tháng, chấp hành xong quyết định ngày 01/02/2019; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2024 đến nay.

Có mặt.

Những người bị hại:

  1. Cao Văn H1, sinh năm 1979.
  2. Lữ Văn K, sinh năm 1989.

Đều cư trú: bản Khứm, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Vắng mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Quỳnh T1 – Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N - Chi nhánh S.

Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 19/02/2024, bị cáo Lữ Văn C từ nhà mình đi ra Lán chòi của anh Lữ Văn K ở bờ sông H chơi. Khi đến nơi thì không có ai ở đó và thấy trong Lán có chìa khóa máy nổ, bị cáo biết anh K có thuyền đánh bắt cá nên bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt thuyền anh K đưa lên đập thủy điện C để đánh bắt cá. Bị cáo lấy chìa khóa và đi xuống bến sông thì thấy 02 chiếc thuyền, trong đó một thuyền có máy nổ, còn một thuyền không có máy nổ, do thấy thuyền không có máy nổ nhỏ hơn nên bị cáo đã tháo máy nổ ở thuyền lớn sang lắp vào thuyền nhỏ rồi nổ máy chạy ngược dòng sông H2 đi lên đập thủy điện C, trên đường điều khiển thuyền đi lên thì biết có người đuổi theo, nên bị cáo đã quay đầu chạy xuôi dòng đến cầu cứng xã C và thấy có người dùng thuyền chặn phía trước nên bị cáo đưa thuyền vào bờ rồi bỏ trốn lên rừng K1. Biết hành vi của mình đã bị trình báo đến Công an huyện Q để điều tra xử lý, ngày 28/3/2024 bị cáo đã đến đầu thú tại cơ quan điều tra Công an huyện Q và khai nhận toàn bộ hành vi của mình đã thực hiện.

Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt, quá trình điều ra đã xác định: Chiếc thuyền thuộc sở hữu của anh Cao Văn H1; máy nổ có gắn chân vịt thuộc sở hữu của anh Lữ Văn K.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 23/KL-HĐ ĐGTS, ngày 04/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện Q kết luận:

  • - Một chiếc thuyền bằng tôn dài 06 m, mũi thuyền thuôn nhọn, đuôi thuyền rộng 0,4 m, thân giữa rộng nhất 1,1 m, trị giá 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).
  • - Một máy nổ động cơ xăng nhãn hiệu Honda loại GX390, dung tích xi lanh 389 cm³, một bên thân máy có gắn đoạn tuýp sắt dài 1,2 m, sau máy gắn chân vịt hai cánh quạt qua trục sắt dài 2,2 m, trị giá 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 10.500.000 đồng (Mười triệu năm trăm nghìn đồng).

Tài sản bị cáo chiếm đoạt khi bị truy bắt thì bị cáo đã bỏ lại tài sản và chạy trốn, những người bị hại đã thu hồi được tài sản của mình. Trong quá trình điều tra cơ quan điều tra đã tạm giữ những tài sản trên nhưng giao cho những người bị hại quản lý để phục vụ công tác điều tra. Khi kết thúc điều tra cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho những người bị hại đầy đủ và những người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm.

Cáo trạng số: 39/CT-VKS - QC, ngày 27/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu truy tố bị cáo Lữ Văn C về tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự.

-Ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa: Giữ nguyên bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 điều 173, điểm i, s khoản 1, 2 điều 51, điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lữ Văn C từ 09 (C) đến 15 (Mười lăm) tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản.

Bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đề nghị không xem xét.

Án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

- Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận vào ngày 19/02/2024 đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc thuyền của anh Cao Văn H1 trị giá 6.000.000 đồng và 01 máy nổ có gắn chân vịt của anh Lữ Văn K trị giá 4.500.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 10.500.000 đồng. Như vậy hành vi của bị cáo đã cấu thành tội: Trộm cắp tài sản như bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Nhất trí với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị căn cứ khoản 1 điều 173, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 50, điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 (S) đến 09 (Chín) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí nhất trí với đề nghị của địa diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo, bị cáo không tranh luận và xin được giảm nhẹ mức hình phạt để bị cáo cải tạo tốt và sớm được trở về với cộng đồng, với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên thu thập, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác cung cấp đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ai có khiếu nại về hành vi tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên và kiểm sát viên.

Về sự có mặt của đương sự: Tại phiên tòa vắng mặt những người bị hại. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã lấy lời khai của những người bị hại, lời khai của các đương sự trong quá trình điều tra cũng phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, những người bị hại đã thu hồi được tài sản bị chiếm đoạt đầy đủ và không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Do đó việc vắng mặt của các đương sự không làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án và không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Căn cứ điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt họ.

[2] Về nội dung:

Căn cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Do bị cáo có quen biết với anh Lữ Văn K là người ở cùng xóm, biết anh K có thuyền đánh bắt cá và có Lán chòi ở bờ sông H để nhằm phục vụ việc đánh bắt cá nên bị cáo đi ra Lán của anh K chơi. Khi đến nơi thì không có ai ở đó và thấy trong Lán có chìa khóa máy nổ, bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt thuyền anh K đưa lên đập thủy điện C để đánh bắt cá. Bị cáo lấy chìa khóa và đi xuống bến sông thì thấy 02 chiếc thuyền, trong đó một thuyền có máy nổ, còn một thuyền không có máy nổ, do thấy thuyền không có máy nổ nhỏ hơn nên bị cáo đã tháo máy nổ ở thuyền lớn sang lắp vào thuyền nhỏ rồi nổ máy chạy ngược dòng sông H2 đi lên đập thủy điện C, trên đường điều khiển thuyền đi lên thì biết có người đuổi theo, nên bị cáo đã quay đầu chạy xuôi dòng đến cầu cứng xã C thấy có người dùng thuyền đuổi theo chặn phía trước nên bị cáo đưa thuyền vào bờ rồi bỏ trốn lên rừng K1. Biết hành vi của mình không thể trốn tránh được nên ngày 28/3/2024 bị cáo đã đến đầu thú tại cơ quan điều tra Công an huyện Q và khai nhận toàn bộ hành vi của mình đã thực hiện.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người bị hại. Hành vi của bị cáo lén lút chiếm đoạt tài sản gồm một chiếc thuyền đóng bằng tôn và một máy nổ là động cơ để chạy thuyền thuộc sở hữu của anh Cao Văn H1 và anh Lữ Văn K. Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là: 10.500.000 đồng.

Hành vi trên của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự. Như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.

- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại tài sản thuộc sở hữu của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương.

- Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 06/7/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 20 tháng, chấp hành xong quyết định ngày 01/02/2019, tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lần này được coi là chưa bị xử lý hành. Mặc dù bị cáo đã được chữa bệnh, học tập và lao động ở trung tâm cai nghiện, tuy nhiên bị cáo không lấy đó là bài học cho bản thân, bị cáo thiếu tu dưỡng rèn luyện bản thân, khi có cơ hội là bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần thiết xét xử nghiêm đối với bị cáo và cách ly bị cáo khỏi đời sống xã một thời gian nhất định để tiếp tục cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người sống có ích cho xã hội.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi biết hành vi phạm tội của mình không thể che dấu được đã chủ động đến đầu thú tại Công an huyện Q. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự. Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

- Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 173 của Bộ luật hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên các bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[3] Vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ tài sản bị cáo chiếm đoạt, kết thúc điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại cho những người bị hại đầy đủ, đúng quy định. Do đó không xem xét.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt đầy đủ và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm. Do đó không xem xét.

[5] Án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ khoản 1 điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 50; điều 38 của Bộ luật hình sự.
  2. Xử phạt: L (Chín) tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/3/2024.
  3. Án phí: Căn cứ điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lữ Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
  4. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người bị hại được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án theo quy định.

Nơi nhận:

  • - VKSND; Công an; THADS H.Quỳ Châu;
  • - Phòng KTNV-TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo; Người bào chữa;
  • - Những người bị hại;
  • - Lưu HSVA.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lô Xuân Diệu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lữ Văn Chinh - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger