Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23/9/2024

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Tĩnh

Bà Nguyễn Thị Hương Nhị

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tri - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 175/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/6/2024 về việc “Tranh chấp Hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Kim T, sinh năm 1975;

Địa chỉ: Khu C, xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Anh Lê Thanh B, sinh năm 1968;

Nơi ĐKHKTT: Khu C, xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ

Chỗ ở hiện nay: Nhà T, đường G, hẻm D, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

(Chị T có đơn xin vắng mặt, anh B vắng mặt lần 2)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Toà án, nguyên đơn chị Phạm Thị Kim T trình bày:

Chị và anh Lê Thanh B có đăng ký kết hôn ngày 11/12/1993 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 1998 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng không bảo ban được nhau, không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống dẫn đến tình cảm vợ chồng dạn nứt không hàn gắn được. Vợ chồng đã sống ly thân 15 năm nay, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị xin được ly hôn anh B.

Về con chung: Chị xác định vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Lê Thị Thanh T1, sinh ngày 22/11/1994 và cháu Lê Hùng T2, sinh ngày 02/12/1996. Hiện nay các cháu đã thành niên và lao động tự túc được nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp gia đình: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định pháp luật. Việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa của người tiến hành tố tụng là đúng quy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Kim T.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Kim T đuợc ly hôn với anh Lê Thanh B.

2. Về con chung: Chị T và anh B có 02 con chung là cháu Lê Thị Thanh T1, sinh ngày 22/11/1994 và cháu Lê Hùng T2, sinh ngày 02/12/1996. Hiện nay các cháu đã thành niên nên không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp gia đình: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Phạm Thị Kim T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Thị Kim T khởi kiện xin ly hôn anh Lê Thanh B, đây là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Bị đơn là anh B có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu C, xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ.

[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh B thông qua cháu ruột của anh B là Lê Xuân Đ ở cùng địa chỉ anh B, nhận và cam kết thông báo cho anh B. Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng anh B vẫn vắng mặt tại phiên tòa (không có đơn xét xử vắng mặt), như vậy anh B từ chối quyền được tự khai, trình bày trực tiếp tại phiên tòa. Nay chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy căn cứ vào quy định tại điểm a,b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự.

[3] Về nội dung:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Kim T và anh Lê Thanh B tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 11/12/1993 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ, đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, chị T và anh B đã xảy ra mâu thuẫn. Qua xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân thì anh B đã vào N làm ăn từ lâu, anh chị sống ly thân từ nhiều năm nay, không còn quan tâm đến nhau. Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng anh B không đến Tòa án để trình bày quan điểm, thông qua cháu trai của anh B là anh Lê Xuân Đ, hàng xóm với anh B nhờ cung cấp thông tin với Tòa án: Các văn bản tố tụng của Tòa án anh B đều đã nhận được. Nay chị T xin ly hôn do bận công việc không về được và có quan điểm đồng ý ly hôn. Từ đó có thể thấy, mâu thuẫn của chị T và anh B đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị T đề nghị xin được ly hôn anh B là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần được chấp nhận.

[3.2] Về con chung: Xác định chị T và anh B có 02 con chung là cháu Lê Thị Thanh T1, sinh ngày 22/11/1994 và cháu Lê Hùng T2, sinh ngày 02/12/1996. Hiện nay các con chung đã thành niên. Do vậy, Hội đồng xét xử không giải quyết.

[3.3] Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp gia đình: Chị Phạm Thị Kim T không đề nghị Toà án giải quyết. Thông qua anh Lê Xuân Đ cho biết: Anh Lê Thanh B không đề nghị giải quyết.

[4] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Phạm Thị Kim T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a,b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271, khoản 1 và khoản 3 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Kim T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Kim T được ly hôn anh Lê Thanh B.

Về con chung: Không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp gia đình: Chị Phạm Thị Kim T và anh Lê Thanh B không yêu cầu giải quyết.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Phạm Thị Kim T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Xác nhận chị Phạm Thị Kim T đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001708 ngày 21/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Phú Thọ.

Chị Phạm Thị Kim T và anh Lê Thanh B vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

- VKSND huyện;

- Chi cục THADS huyện;

- UBND xã V, H. L

(KH số 67 ngày 11/12/1993);

- Các đương sự;

- Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Tuấn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 41/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Kim Tuyến - Lê Thanh Bình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger