TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2024/HS-ST Ngày: 23-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quốc Hương.
Thẩm phán tham gia: Ông Lê Văn Hữu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Hiệp, ông Vũ Xuân Mai và bà Đỗ Thị Hà.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng Hải – Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Óng – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Trương Văn T, tên gọi khác: Bảy Tốt, sinh ngày 26/11/1971 tại Campuchia; Nơi đăng ký HKTT: Tổ dân phố A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nơi ở: Tổ dân phố N, phường Q, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn P và bà Nguyễn Thị C (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Kim A (sinh năm 1971); có 02 con, lớn sinh năm 2000 và nhỏ sinh năm 2002; tiền án: 02, tại Bản án số 49/1997/HSST ngày ngày 19/9/1997 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xử phạt Trương Văn T 04 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”, đã chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa thi hành xong các quyết định khác theo quy định của pháp luật (chưa được xóa án tích); tại Bản án số 43/2000/HSST ngày ngày 11/12/2000 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xử phạt Trương Văn T 20 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”, đã chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa thi hành xong các quyết định khác theo quy định của pháp luật (chưa được xóa án tích); tại Bản án số 49/2006/HSST ngày ngày 18/5/2006 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt Trương Văn T 02 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt tù (đã xóa án tích); tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 15/4/2022 – Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Trương Văn T: Ông Lương Minh K là Luật sư của Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ; địa chỉ: G P, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.
Bị hại: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ dân phố N, phường Q, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.
Người làm chứng:
Bà Nguyễn Thị H1; địa chỉ: Tổ dân phố N, phường Q, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.
Ông Nguyễn Hữu T1; địa chỉ: Tổ dân phố N, phường Q, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 06/02/2022 Trương Văn T, sinh năm 1971 đăng ký HKTT tại Tổ dân phố N, phường Q, thành phố G, tỉnh Đắk Nông, nhìn thấy anh Nguyễn Văn H (sinh năm 1972) là hàng xóm đi qua nhà của T thì T có nói với anh H về nhà xem có bị mất gà hay không, vì nghe tiếng gà kêu ở phía nhà anh H.
Thấy anh H không trả lời mà đi về nhà, do đó T đi theo đến nhà anh H đe dọa sẽ chém anh H, thì được anh H cùng vợ là chị Nguyễn Thị H1 đến can ngăn, giải thích, nhưng T bỏ về nhà lấy 01 con dao dài 55cm, lưỡi dao sắc bằng kim loại dài 29,5cm, bản dao nơi rộng nhất 6cm, nơi hẹp nhất 02cm, mũi dao quắm quay lại nhà anh H vào lúc 15 giờ 30 phút cùng ngày. Khi phát hiện anh H đang đi từ giếng vào trong bếp, T cầm dao bằng tay phải dơ lên chém 01 nhát theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào đầu của anh H, thì được chị H1 và anh Nguyễn Hữu T1 (là hàng xóm của anh H) phát hiện, đến can ngăn và đưa anh H đi cấp cứu tại bệnh viện.
Hiện trường vụ án được xác định: Là nhà của anh Nguyễn Văn H ở Tổ dân phố N, phường Q, thành phố G, tỉnh Đắk Nông, căn nhà cấp 4 có diện tích (4.7 x 8,7)m, nhà có 02 lối ra, vào (lối vào chính và lối vào phụ). Vị trí T thực hành vi phạm tội là trước lối vào phụ phía trong nhà ở hướng T.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 115/TgT ngày 21/3/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Đ, đối với anh Nguyễn Văn H kết luận: Dấu hiệu chính qua giám định: Vỡ sọ trán trái, có mảnh xương rời xuyên vào nhu mô não; dập xuất huyết não vùng trán trái; sẹo vết thương vùng trán đỉnh bên trái. Tỷ lệ % TTCT do thương tích gây nên của Nguyễn Văn H hiện tại là: Dị vật (mảnh xương) xuyên vào nhu mô não trán trái, tỷ lệ 21%; vỡ xương vòm sọ chiều dài từ 3cm đến 5cm điện não đồ ổn định, tỷ lệ 11% bằng (100-21) x 11% - 8,69%; Dập xuyết huyết não trán trái, tại thời điểm giám định đã hết hình ảnh tổn thương trên chuẩn đoán hình ảnh, tỷ lệ 05% bằng (100 - 21 - 8,69) x 5% = 3,35%; Sẹo phần mềm vùng trán đỉnh trái kích thước trung bình, tỷ lệ 02% bằng (100 - 21 - 8,69 - 3,51) x 2% = 1,33%. Tổng tỷ lệ %TTCT: 21% + 6,89% + 3,51% + 1,33% + 3, 51% + 1,33% = 34.53%, làm tròn bằng 35%. Kết luận: Tỷ lệ TTCT của Nguyễn Văn H hiện tại là 35%.
Kết luận khác: Tổn thương do vật sắc tác động theo hướng từ trên xuống dưới, từ trước ra sau gây nên.
Cáo trạng số 34/CT-VKSĐN-P2 ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông truy tố Trương Văn T về tội “Giết người” theo điểm n, p khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố đúng người, đúng tội, không oan.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
- - Về tội danh: Tuyên bố Trương Văn T phạm tội “Giết người”, áp dụng điểm n, p khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 15, Điều 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trương Văn T từ 12 (mười hai) năm đến 13 (mười ba) năm tù.
- - Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý tại Bản án hình sự sơ thẩm số 82/2022/HS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
- - Về trách nhiệm dân sự: Công nhận thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại, buộc Trương Văn T bồi thường cho bị hại 50.000.000đ, khấu trừ đi số tiền 10.000.000₫ đã bồi thường, bị cáo còn phải bồi thường số tiền 40.000.000đ.
Người bào chữa cho bị cáo đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trương Văn T đã ăn năn hối cải trong suốt quá trình điều tra và xét xử, là người không biết chữ, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn hiện chỉ sống một mình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ xử bị cáo mức án nhẹ hơn Viện kiểm sát đề nghị.
Bị hại ông Nguyễn Văn H không có ý kiến gì, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Nông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp[2]. Về tội danh:
Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 06/02/2022, tại Tổ dân phố N, phường Q, thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Trương Văn T bực tức vì ông Nguyễn Văn H không trả lời ý tốt của mình nên T đã đi ra hàng rào trước sân nhà chửi bới và nhiều lần nói với về phía nhà ông H là “Tao chém thằng H ban ngày, chứ không cần đợi đến đêm”. Sau đó, T vào nhà lấy 01 con dao dài 55cm, lưỡi dao sắc bằng kim loại dài 29,5cm, bản dao nơi rộng nhất 6cm, nơi hẹp nhất 02cm, mũi dao quắm chém 01 cái vào đầu ông Nguyễn Văn H một cách bất ngờ, trong lúc ông H hoàn toàn bị động và không thể chống đỡ bởi 02 tay đang bưng rổ thịt. Hậu quả, ông H bị thương tích 35%, có khả năng dẫn đến tử vong nếu không được cấp cứu, điều trị kịp thời. Hành vi của T dùng dao là hung khí nguy hiểm chém vào đầu của bị hại là vùng trọng yếu trên cơ thể có khả năng dẫn đến hậu quả chết người nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bị hại chưa chết là hành vi phạm tội chưa đạt. Do đó, hành vi của bị cáo Trương Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n, p khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung tăng nặng “có tính chất côn đồ” và “tái phạm nguy hiểm”.Điều 123. Tội giết người
“1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
...
n) Có tính chất côn đồ;
p) Tái phạm nguy hiểm;
...”
[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, hậu quả và nhân thân, ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo gây ra là đặc biệt nghiêm trọng. Bị cáo là người có đủ nhận thức nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện ý thức xem thường tính mạng của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt đủ nghiêm mới đảm bảo được mục đích giáo dục, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; đã bồi thường số tiền 10.000.000đ khắc phục hậu quả cho bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà, Trương Văn T đồng ý bồi thường số tiền 50.000.000đ theo yêu cầu của bị hại, khấu trừ số tiền đã bồi thường 10.000.000đ, bị cáo còn phải bồi thường số tiền 40.000.000đ. Thỏa thuận này không trái với quy định pháp luật và đạo đức xã hội nên cần chấp nhận.
[6]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và luận cứ của người bào chữa cho bị cáo có căn cứ nên chấp nhận.
[7]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Chấp nhận tịch thu tiêu hủy 01 con dao rựa là công cụ phạm tội như Quyết định Thi hành án chủ động số 141/QĐ-CCTHADS ngày 01/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa.
- - Chấp nhận ngày 12/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G có Quyết định xử lý đồ vật tài liệu số 50/QĐ-CQĐT-ĐCSHS, trả lại xe mô tô BKS 47B2-545.45 cho chị Bùi Thị Kim T2 là chủ sở hữu hợp pháp, do không liên quan đến hành vi phạm tội.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trương Văn T phạm tội “Giết người”.
Áp dụng điểm n, p khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Văn T 12 (mười hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam ngày 15/4/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 587 và Điều 592 của Bộ luật dân sự, công nhận thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại, buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 50.000.000đ cho bị hại, khấu trừ số tiền đã bồi thường 10.000.000đ, bị cáo còn phải bồi thường số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành các khoản tiền trên, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trương Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Trương Văn T phải chịu 2.000.000đ (hai triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì n gười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quốc Hương |
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về hình sự sơ thẩm (tội giết người)
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Giết người)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Văn T phạm tội "Giết người" theo quy định tại điểm n, p khoản 1 Điều 123 của BLHS
