|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc
|
|
Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST Ngày 23-7-2024 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Xuân Phong
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bá Thành
- Bà Vũ Thị Lan Anh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành: Bà Nguyễn Thị Lâm - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Hôm nay, ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 98/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/6/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đặng Kim H, sinh năm 1966. Có mặt
- Bị đơn: Bà Ngô Thị H1 (tức H2), sinh năm 1967. Vắng mặt
- Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, thị xã T, Bắc Ninh
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án ông Đặng Kim H trình bày: Ông kết hôn bà Ngô Thị H1 (tức bà Ngô Thị H3) chung sống với nhau từ ngày 22/9/1987 (ÂL) có tổ chức cưới theo phong tục địa phương nhưng không đăng ký kết hôn. Trước khi cưới hai bên được tự do tìm hiểu không bị ép buộc. Sau khi cưới bà H1 về nhà ông sinh sống, làm ăn luôn.
Quá trình chung sống ông và bà H1 chưa đăng ký kết hôn. Đến ngày 12/8/1997(ÂL) bà H1 dẫn cháu Đặng Kim T, sinh ngày 25/8/1993 bỏ đi ông không biết tung tích của bà H1. Hai gia đình đã tổ chức tìm kiếm nhưng không thấy bà H1 và cháu T ở đâu. Ngày 20/6/2023 ông có làm đơn yêu cầu Toà án tuyên bố bà H1 mất tích. Ngày 02/02/2024 Toà án nhân dân thị xã Thuận Thành đã có Quyết định số 01/2024/QĐ-VDS v/v tuyên bố bà Ngô Thị H1 (tức H3) mất tích. Từ khi có Quyết định tuyên bố bà H1 mất tích đến nay ông cũng không có thông tin gì về bà H1. Ông đề nghị Toà án cho ông được ly hôn với bà Ngô Thị H1 (tức H3).
Về con chung: Vợ chồng có con chung là cháu Đặng Kim T1, sinh ngày 20/10/1988 và cháu Đặng Kim T, sinh ngày 25/8/1993. Cháu T1 đã trưởng thành ông không yêu cầu Toà án giải quyết. Cháu T đi theo mẹ từ năm 1997 đến nay không có thông tin và Toà án đã có Quyết định tuyên bố cháu mất tích.
Về tài sản chung: Không yêu cầu.
Về công nợ: Không yêu cầu.
Phía bị đơn bà Ngô Thị H1 vắng mặt tại địa phương nên không tiến hành lấy lời khai của bà H1 được.
Tại phiên tòa hôm nay ông H trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Ông đề nghị được ly hôn với bà H1.
Về con chung: Vợ chồng có con chung là cháu Đặng Kim T1, sinh ngày 20/10/1988 và cháu Đặng Kim T, sinh ngày 25/8/1993. Cháu T1 đã trưởng thành ông không yêu cầu Toà án giải quyết. Cháu T đi theo mẹ từ năm 1997 đến nay không có thông tin và Toà án đã có Quyết định tuyên bố cháu mất tích ông không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo đúng quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật TTDS; Căn cứ các Điều 5,6,7 và 8 Luật Hôn nhân và gia đình 1986; Điều 14 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 2 Điều 68 Bộ luật dân sự 2015.
Căn cứ Khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH 10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b Khoản 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết Nghị quyết 35/2000/NQ-QH 10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội.
Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông H và bà H1 là vợ chồng.
Về con chung: Vợ chồng có con chung là cháu Đặng Kim T1, sinh ngày 20/10/1988 và cháu Đặng Kim T, sinh ngày 25/8/1993. Hiện nay các cháu đã trưởng thành các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Ông H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện và yêu cầu tại phiên tòa Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” do nguyên đơn ông Đặng Kim H khởi kiện đối với bị đơn bà Ngô Thị H1, địa chỉ thôn B, xã Đ, thị xã T, Bắc Ninh. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/6/2024 thời gian xét xử được ấn định vào ngày 05/7/2024. Phiên toà ngày 05/7/2024 hoãn do bà H1 vắng mặt nên phiên toà được ấn định vào ngày 23/7/2024.
Tại phiên tòa hôm nay bà H1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung:
2.1. Về quan hệ hôn nhân:
Ông Đặng Kim H và bà Ngô Thị H1 (tức bà Ngô Thị H3) chung sống với nhau từ ngày 22/9/1987 (ÂL) tức ngày 13/11/1987 có tổ chức cưới theo phong tục địa phương nhưng không đăng ký kết hôn. Bà H1 bị tuyên bố mất tích theo Quyết định số 01/2024/QĐ-VDS ngày 02/02/2024 của Toà án nhân dân thị xã Thuận Thành nên không có ý kiến về việc kết hôn giữa ông H và bà H1. Qua xác minh tại UBND xã Đ không còn lưu giữ được sổ đăng ký kết hôn từ năm 1990 trở về trước. Tuy nhiên, ông H thừa nhận ông và bà H1 chung sống với nhau từ ngày 22/9/1987 (ÂL) và không đăng ký kết hôn.
Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông H và bà H1 bắt đầu xác lập năm 1987 nên theo quy định tại Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 1986các văn bản hướng dẫn thi hành để giải quyết. Tại thời điểm bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng ngày 13/11/1987, ông H, bà H1 đều đủ tuổi kết hôn; hai bên chung sống với nhau trên có sở tự nguyện, không thuộc các trường hợp cấm đăng ký kết hôn. Do đó, ông H, bà H1 có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại các Điều 5,6,7 Luật Hôn nhân và gia đình 1986. Tuy nhiên, tại thời điểm bắt đầu chung sống, ông H, bà H1 không đăng ký kết hôn tại UBND cấp xã nơi cư trú là vi phạm Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 1986. Sau đó, từ ngày 01/01/2001 đến nay, ông H, bà H1 cũng không tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Do đó, theo quy định tại Khoản 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH 10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b Khoản 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTPTòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết 35/2000/NQ-QH 10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội và Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014,ông Đặng Kim H và bà Ngô Thị H1 (tức H3) không được công nhận là vợ chồng.
2.2. Về con chung: Vợ chồng có con chung là cháu Đặng Kim T1, sinh ngày 20/10/1988 và cháu Đặng Kim T, sinh ngày 25/8/1993. Cháu T1 đã trưởng thành không yêu cầu Toà án giải quyết. Cháu T đi theo mẹ từ năm 1997 đến nay không có thông tin và Toà án đã có Quyết định tuyên bố cháu mất tích ông H không yêu cầu Toà án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.
2.3. Về tài sản chung công nợ: Không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
2.4. Về án phí: Ông Đặng Kim H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227,228, 266, 267, 269, 271, 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ các Điều 5,6,7 và 8 Luật Hôn nhân và gia đình 1986; Điều 14 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 2 Điều 68 Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ Khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH 10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b Khoản 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết Nghị quyết 35/2000/NQ-QH 10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí tòa án, xử:
- Về quan hệ vợ chồng: Không công nhận ông Đặng Kim H và bà Ngô Thị H1 (tức H3) là vợ chồng.
- Về con chung: Không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ: Không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Ông Đặng Kim H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp theo biên lai số AA/2021/0003377, ngày 29/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Ngô Xuân Phong |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lê Bá Thành – Vũ Thị Lan Anh |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Xuân Phong |
Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 41/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh H xin ly hôn chị H
