Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM KHÊ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HS-ST

Ngày 23- 5 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Bộ.
  • Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Tâm.
  • 2. Bà Nguyễn Thị Sâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 23/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2024/TLST-HS ngày 02/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43 /2024/QĐXXST-HS ngày 10/5/2024 đối với bị cáo:

  • Họ và tên: Lê Văn Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
  • Sinh ngày 22 tháng 3 năm 1983, tại thị xã P, tỉnh Phú Thọ;
  • Nơi cư trú: khu B, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ;
  • Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
  • Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 09/12; Đảng phái, chức vụ: Không;
  • Bố đẻ: Lê Văn S - sinh năm 1933 (đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị L - sinh năm 1943.
  • Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ bảy;
  • Vợ: Nguyễn Thu C - sinh năm 1984.
  • - Con: Có 03 con, là Lê Nguyễn Thảo P - sinh năm 2010, Lê Hương L1 - sinh năm 2012 và Lê Chí D - sinh năm 2020.
  • - Tiền án, tiền sự: Không
  • - Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/01/2024 đến nay tại xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.(Có mặt tại phiên toà).

Người bị hại: Anh Trần Văn Đ1, sinh năm 1983.(đã chết)

Địa chỉ: Khu D, xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Người đại diện của bị hại: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Khu D, xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ.(Có mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Đức K, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Khu B, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ,(Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 26/12/2023, Lê Văn Đ - sinh năm 1983, trú tại khu B, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 19C-153.26 đi từ xã H, thị xã P theo tuyến đường H qua cầu N, qua ngã tư T, rồi qua cầu T thì rẽ trái đi vào tuyến đường đê N thuộc xã H, huyện C để đi đến mỏ đá Hang Nắng thuộc huyện Y trở đá. Đến khoảng 07 giờ 17 phút cùng ngày, Đ điều khiển xe ô tô đi đến gần ngã tư đoạn đường giao nhau giữa đường Đ (hướng Hùng V đi S) với đường tỉnh lộ 313E (hướng T đi P) thuộc khu Đ, xã T, huyện C, thì Đ đã không giảm tốc độ để nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, đường chính mà tiếp tục điều khiển xe đi thẳng để qua ngã tư, thì phát hiện thấy xe mô tô biển kiểm soát 19G1-453.57 do anh Trần Văn Đ1 - sinh năm 1983, trú tại khu D, xã C, huyện C, điều khiển từ hướng T - P đi đến ra ngã tư. Lúc này Đ có đạp phanh và điều khiển xe đánh lái sang trái để tránh, nhưng do khoảng cách quá gần nên phần đầu bên trái (tại vị trí phía trên cụm đèn chiếu sáng) xe ô tô tải do Đ điều khiển đã va chạm với phần đầu tay nắm bên trái xe mô tô do anh Đ1 điều khiển. Sau va chạm xe mô tô bị đổ xuống nền đường, bị cuốn vào trong gầm xe tải, còn anh Đ1 bị ngã văng xuống nền đường và bị phần bánh phía trước bên trái của xe ô tô tải chèn qua vùng đầu. Do quán tính xe ô tô do Đ điều khiển vẫn đi thêm một đoạn đường khoảng 10 mét nữa mới dừng lại được.

Sau đó, Đ xuống kiểm tra, phát hiện anh Trần Văn Đ1 đã chết nằm phía dưới phần đuôi của thùng xe ô tô tải, còn xe mô tô nằm ở vị trí 1/3 bên phải phía dưới đầu xe ô tô tải. Do sợ người nhà nạn nhân đến sẽ xảy ra chuyện nên Đ đã bỏ lại xe ô tô rời khỏi hiện trường và đến khi Cơ quan điều tra triệu tập Đ đã đến làm việc theo quy định.

Kết quả khám nghiện hiện trường, xác định:

Đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn là tại ngã tư cầu Đ thuộc khu Đ, xã T, huyện C (khu vực có đường giao nhau giữa đường T với đường Đ). Mặt đường rộng 11,9m, có vạch dẫn hướng nét đứt đoạn màu trắng (ký hiệu 5.1). Quá trình khám nghiệm lấy mép đường trái hướng Hùng V đi S (hướng xe ô tô tải) là mép đường chuẩn và lấy biển chỉ dẫn ghi cầu T - Lý Trình Km 2+740 làm vật chuẩn.

Vị trí, dấu vết, cụ thể: (VT1): Vết cày trên mặt đường, kích thước: 3,5 x 0,07 x 0,02m, điểm đầu cách mép đường chuẩn 5,30m, cách vật chuẩn 26,7m, điểm cuối cách mép đường chuẩn 5,5m; (VT2): Vết trà sát trên mặt đường, kích thước 3,5 x 0,3m, điểm đầu cách mép đường chuẩn 5,25m, cách điểm đầu vết VT1 là 0,25m và điểm cuối cách mép đường chuẩn 5,3m; (VT3): Vết cày trên mặt đường, kích thước 26,7m x 0,15 x 0,01m, điểm đầu cách mép đường chuẩn 6m, cách điểm đầu vết VT1 là 0,5cm và điểm cuối cách mép đường chuẩn 5m; (VT4): Vết trà sát đứt đoạn trên mặt đường, kích thước 19,6 x 0,12m, điểm đầu cách mép đường chuẩn 4,95m, cách điểm cuối vết VT 2 là 3,8m và điểm cuối cách mép đường chuẩn 4,18m; (VT5): Vết trà sát trên mặt đường màu đen, kích thước 10,5 x 0,5m, tâm điểm đầu cách mép đường chuẩn 7,1m, cách điểm đầu vết VT4 là 3,7m và tâm điểm cuối cách mép đường chuẩn 5,75m; (VT6): Diện chất dịch màu nâu và mô cơ thể người, kích thước của diện 4,1 x 1,5m, tâm điểm đầu của diện cách mép đường chuẩn 5,15m, cách điểm đầu vết VT5 là 2,3m và tâm điểm cuối của diện cách mép đường chuẩn 5m; (VT7): Vết trà sát mặt đường màu đen, kích thước Dài 8,4 x 0,5m, tâm điểm đầu vết cách mép đường chuẩn 5,3m, cách điểm đầu vết VT6 là 0,4m và điểm cuối cách mép đường chuẩn 4,15m; (VT8): Vết trà sát mặt đường màu trắng, kích thước 13,7 x 0,15m, tâm điểm đầu của vết cách mép đường chuẩn 6,4m, cách điểm đầu vết VT5 là 1,5m và tâm điểm cuối vết này cách mép đường chuẩn 4,65m; (VT9): Xe ô tô tải 19C-153.26 dừng đỗ trên mặt đường, đầu xe hướng đi S, đuôi xe hướng Hùng V, trục trước bên trái cách mép đường chuẩn 3,2m, trục sau bên trái cách mép đường chuẩn 3,9m và cách tâm điểm đầu vết VT8 là 8,75m; (VT10): Vị trí tử thi là nam giới nằm nghiêm sang phải đường, đầu hướng về Hùng V1, cách mép đường chuẩn 5,3m, cách tâm điểm đầu vết VT8 là 7,5m và phần mông tử thi cách mép đường chuẩn 4,75m; (VT11): Xe mô tô BKS 19G-453.57 đổ nghiêng bên phải đường và nằm ở 1/3 vị trí bên phải phía dưới đầu xe ô tải 19C-153.26, đầu xe hướng đi S, đuôi xe quay hướng Hùng V1, trục trước bên phải cách mép đường chuẩn 4,9m, cách trục trước bên trái xe ô tô tải ở VT9 là 2,1m và trục sau bên trái cách mép đường chuẩn 4,8m. Mở rộng hiện trường về hướng đi T phía bên trái đường có 01 biển cảnh báo đi chậm hình tam giác cách mép đường 1,1m và cách mép đường chuẩn 19,6m, cách điểm đầu vết VT1 là 25,1m, trên mặt đường có 12 gờ giảm tốc, điểm gần nhất cách biển cảnh báo 4,1m. Mở rộng hiện trường về hướng đi Hùng V1 có 01 biển báo đi chậm hình tam giác, cách mép đường 1,1m và cách điểm đầu vết VT1 là 69,9m, trên mặt đường có 12 gờ giảm tốc, điểm gần nhất cách biển cảnh báo 4,2m.

* Kết quả khám phương tiện xác định:

  • - Khám nghiệm xe ô tô tải 19C-153.26: Phần đầu ba đờ sốc bên trái bị móp méo, chiều hướng từ trước về sau, bề mặt bong chóc sơn, kích thước 50 x 28cm; đèn xương mù bên trái bị vỡ đẩy cong từ trước về sau; cụm đèn chiếu sang bên trái và đèn tín hiệu bên trái bung rời khỏi chốt cố định, phần ốp nhựa bảo vệ cụm đèn chiều sáng bị vỡ, kích thước 20 x 17cm; ốp nhựa phía trước của bậc để chân lên xuống bên trái bị vỡ một phần, kích thước 18 x 8cm; mặt trước phía dưới bên trái thanh rằng ngang có bám dính tổ chức não người, kích thước 30 x 36cm; mặt trước phía dưới thanh cầu ngang trục trước có vết quẹt trượt mài mòn lim loại, kích thước 50 x 6cm; phần góc đáy tắc te bên phải có vết quẹt trượt móp méo, kích thước 5x8cm.
  • - Khám nghiệm mô tô BKS 19G-453.57: 02 gương chiếu hậu của xe bị vỡ bung rời phần gương kính, 02 gáo gương bị nứt vỡ một phần, phần cao su chân gương bên phải bị rách cao su, mài mòn kim loại kích thước 5 x 2cm; mặt ngoài ốp nhựa chân gương bên trái bị mài mòn nhựa kích thước 4 x 2cm; đầu tay nắm bên trái có vết mài mòn kim loại kích thước 4 x 0,8cm; ốp nhựa phía trên cụm đèn chiếu sáng bung rời khỏi xe và phần nhựa liên kết cụm đèn chiếu sáng với đồng hồ công tơ mét bị bung bật các chốt cố định; mặt ngoài tay phanh bên phải bám dính chất màu xanh, kích thước 5x 0,5cm; ốp nhựa bảo vệ cụm đèn tín hiệu phía trước bên phải bị nứt vỡ ½ bung rời khỏi xe; cần đạp phanh bị đẩy cong từ trước về sau áp sát vào lốc máy, bàn đạp phanh có vết trà sát mài mòn kim loại kích thước 4 x 0,2cm; ống giảm thanh móp méo biến dạng, bị đẩy áp sát vào càng sau bên phải; càng sau bên phải bị đẩy cong áp sát vào bánh; tại vị trí mặt ngoài 1/3 ốp nhựa sườn bên phải xe có vết trà sát nhựa bám dính đất kích thước 15 x 7cm; tại vị trí 1/3 cánh yếm bên trái bị nứt vỡ, trà sát mài mòn nhựa kích thước 7 x 1cm, đường nứt vỡ kéo dài 12cm; để chân chính phía trước bên trái bị đẩy cong, phần cao su ở đầu bị rách lộ phần kim loại đường kính 1cm; tại vị trí ½ ốp nhựa sườn bên trái bị mài nhựa mất sơn kích thước 43 x 12cm; mặt ngoài 1/3 giảm sóc sau bên trái bị mài mòn kim loại kích thước 3x2cm; đầu trục sau bên trái bị mài mòn kim loại dài 12cm; cụm đèn hậu, đèn tín hiệu hai bên phía sau xe bung bật rời khỏi vị trí lắp đặt; ốp nhựa biển số xe bị nứt vỡ kích thước 17x7cm; bánh sau gãy toàn bộ nan hoa từ phải qua trái; hệ thống an toàn kỹ thuật của xe không còn hoạt động.

Kết quả kiểm tra nồng độ cồn và chất ma túy ngày 26/12/2023 tại Trung tâm y tế huyện C, thể hiện: Trong hơi thở của Lê Văn Đ thu được kết quả 0,000mg/1 khí thở và không có chất ma túy trong nước tiểu.

Ngày 26/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra quyết định trưng cầu số 266, giám định nguyên nhân chết đối với Trần Văn Đ1. Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 86/KL-KTGĐTT-PC09 ngày 15/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh P, kết luận: Toàn bộ vùng đầu, mặt bị sây sát, rách da, dập vỡ biến dạng; gẫy toàn bộ xương hàm mặt, xương hộp sọ dập vỡ hoàn toàn thành nhiều mảnh, màng cứ dập rách, tổ chức não dập nát hoàn toàn thoát ra ngoài cơ thể, chảy máu qua đường xương vỡ. Nguyễn nhân chết của Trần Văn Đ1 do chấn thương sọ não, gãy vỡ hàm mặt.

Tại bản Kết luận giám định số 82/KL-KTHS ngày 15/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh P, kết luận: Trong mẫu máu của tử thi Trần Văn Đ1 gửi giám định không có cồn (Ethanol).

Tại bản Kết luận giám định số 103/KL-KTHS ngày 17/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh P, kết luận: Trong mẫu nước tiểu của tử thi Trần Văn Đ1 gửi giám định không có chất ma túy.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 12/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: Giá trị thiệt hại xe mô tô BKS 19G-453.57 là 8.260.000 đồng.

Tại Công văn số 01/KT&HT ngày 08/01/2024 của Phòng kinh tế và hạ tầng - UBND huyện C, trả lời về việc phân cấp đường giao thông tại nút giao ngã tư đường giao nhau giữa đường tỉnh 313 E với đường đê tả ngòi Me, thì: Tuyến đường tỉnh 313 E là đường tỉnh, là đường chính; tuyến đường đê tả ngòi Me hiện do UBND huyện C quản lý, là đường nhánh.

Trích xuất dữ liệu Camera hành trình của xe tải ô tô tải 19C-153.26 tại thời điểm trước khi xảy ra vụ tai nạn lúc 07 giờ 17 phút, thì tốc độ của xe ô tô giao động từ 38 đến 42 km/h. Kết quả rà soát Camera nhà dân hai bên đường gần khu vực xảy ra vụ tai nạn (đã trích xuất và sao lưu dữ liệu), xác định: Xe ô tô tải 19C-153.26 từ hướng xã H đi xã S và xe mô tô BKS 19G-453.57 từ hướng xã T đi xã P ra ngã tư cầu Đ, khu vực có đường giao nhau giữa đường tỉnh lộ 313E với đường Đ, thuộc khu Đ, xã T, huyện C trước khi xảy ra vụ tai nạn.

Cáo trạng số 27/CT -VKSCK ngày 08/5/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Lê Anh Đ2 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử :

* Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

*Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng. Thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lê Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ trong việc quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự . Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Miễn hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự cho bị cáo Lê Văn Đ.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho Lê Văn Đ 01 giấy phép lái xe ô tô số [...] hạng E, FC cấp ngày 10/01/2023 mang tên Lê Văn Đ.

(Theo Biên bản giao vật chứng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ ngày 10/5/2024).

Xác nhận cơ quan điều tra Công an huyện C đã xử lý vật chứng, trả lại cho:

  • - Anh Bùi Đức K - sinh năm 1975, trú tại xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 19C-153.26, nhãn hiệu CNHTC, màu sơn trắng đen; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 19015551, cấp cho xe ô tô 19C-153.26 có tên chủ xe Vũ Văn H; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật phương tiện và bảo vệ môi trường tạm giữ của Lê Văn Đ là hợp pháp.
  • - Chị Hoàng Thị T (vợ anh Đ1) 01 mô tô biển kiểm soát 19G1-453.57, 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] cấp ngày 20/12/2018 mang tên Trần Văn Đ1, 01 giấy xác nhận của Công ty cổ phần K2 là hợp pháp.

*Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo Lê Văn Đ đã bồi thường cho đại diện gia đình bị hại số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Đến nay, chị Hoàng Thị T là vợ của bị hại anh Trần Văn Đ1 đại diện gia đình đã nhận đủ số tiền trên và không có đề nghị gì khác.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và mong muốn Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật.

[2]. Về những chứng cứ xác định có tội được xác định như sau: Khoảng 07 giờ 17 phút ngày 26/12/2023, Lê Văn Đ được cấp giấy phép lái xe hạng E, FC, điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 19C-153.26 đi trên đường Đ (hướng Hùng V đi S), khi đi đến ngã tư giao nhau với đường T (hướng T đi P) thuộc khu Đ, xã T, huyện C, đã “không nhường đường cho xe đi trên đường chính từ bất kỳ hướng nào tới tại nơi đường giao nhau”, dẫn đến phần đầu bên trái (tại vị trí phía trên cụm đèn chiếu sáng) xe ô tô tải do Đ điều khiển đã va chạm với phần đầu tay nắm bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 19G1-453.57 do anh Trần Văn Đ1 điều khiển đi đến. Hành vi của Lê Văn Đ đã vi phạm khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ. Hậu quả: Anh Trần Văn Đ1 tử vong và thiệt hại về tài sản xe mô tô BKS 19G1-453.57 là 8.260.000 đồng. Do đó, có đủ cơ sở để xác định bị can Lê Văn Đ đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Hành vi nêu trên của bị can Lê Văn Đ đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự, quy định:

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

Hành vi nêu trên của Lê Văn Đ đã vi phạm quy định của pháp luật về tham gia giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác.

Do vậy, bản cáo trạng số 27/CT-VKSCK ngày 08/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê truy tố bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lỗi vô ý; mức độ phạm tội là nghiêm trọng, đã xâm phạm tính mạng công dân được pháp luật bảo vệ. Nên hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm.

[4]. Về các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại và thành khẩn khai báo, ăn năn; bị cáo có bố đẻ là ông Lê Văn S được Chủ tịch nước tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất và mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị L tham gia dân công hỏa tuyến được Bộ cấp giấy chứng nhận. Ngoài ra, bị cáo còn được đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân của bị cáo: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt.

Căn cứ tính chất hành vi phạm tội; căn cứ tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đảm bảo trừng trị, giáo dục riêng đối với bị cáo; phòng ngừa chung trong xã hội; mà còn thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự: Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo ngoài công việc là lái xe bị cáo còn là lao động tự do bản thân và gia đình rất khó khan nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[6]. Về xử lý vật chứng vụ án:

  • - Đối với 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 19C-153.26, nhãn hiệu CNHTC, màu sơn trắng đen; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 19015551, cấp cho xe ô tô 19C-153.26 có tên chủ xe Vũ Văn H; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật phương tiện và bảo vệ môi trường tạm giữ của Lê Văn Đ. Quá trình điều tra xác định: Xe ô tô 19C-153.26, chủ xe là anh Vũ Văn H - sinh năm 1993, trú tại xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Ngày 24/12/2023, anh H đã bán chiếc xe ô tô này cho anh Bùi Đức K - sinh năm 1975, trú tại xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ và bị can Lê Văn Đ (góp tiền mua chung) với giá 120.000.000 đồng, nhưng chưa làm thủ tục cấp đổi lại đăng ký và biển số. Ngày 05/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra Quyết định số 178, về xử lý vật chứng, trả lại xe ô tô cùng giấy tờ cho anh K là đúng quy định pháp luật.
  • - Đối với 01 mô tô biển kiểm soát 19G1-453.57, 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] cấp ngày 20/12/2018 mang tên Trần Văn Đ1, 01 giấy xác nhận của Công ty cổ phần K2. Quá trình điều tra xác định đây là những tài sản riêng của anh Trần Văn Đ1 đã chết trong vụ tai nạn. Ngày 19/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra Quyết định số 231, về xử lý vật chứng, trả lại xe mô tô cùng giấy tờ cho chị Hoàng Thị T (vợ anh Đ1) là đúng quy định pháp luật.
  • - Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô số [...] hạng E, FC cấp ngày 10/01/2023 mang tên Lê Văn Đ, cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.

Đối với xe ô tô tải BKS 19C-153.26 bị hư hỏng một số chi tiết sau tai nạn, thì anh Bùi Đức K từ chối định giá tài sản và không yêu cầu bị cáo Đ phải bồi thường nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

[7]. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị cáo Lê Văn Đ đã bồi thường cho đại diện gia đình bị hại số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Đến nay, chị Hoàng Thị T là vợ của bị hại anh Trần Văn Đ1 đại diện gia đình đã nhận đủ số tiền trên và không có đề nghị gì khác cần xác nhận.

[8]. Về án phí: Bị cáo Lê Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

*Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng. Thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lê Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ trong việc quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự . Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Miễn hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự cho bị cáo Lê Văn Đ.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho Lê Văn Đ 01 giấy phép lái xe ô tô số [...] hạng E, FC cấp ngày 10/01/2023 mang tên Lê Văn Đ.

(Theo Biên bản giao vật chứng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ ngày 10/5/2024).

Xác nhận cơ quan điều tra Công an huyện C đã xử lý vật chứng, trả lại cho:

  • - Anh Bùi Đức K - sinh năm 1975, trú tại xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 19C-153.26, nhãn hiệu CNHTC, màu sơn trắng đen; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 19015551, cấp cho xe ô tô 19C-153.26 có tên chủ xe Vũ Văn H; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật phương tiện và bảo vệ môi trường tạm giữ của Lê Văn Đ là hợp pháp.
  • - Chị Hoàng Thị T (vợ anh Đ1) 01 mô tô biển kiểm soát 19G1-453.57, 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] cấp ngày 20/12/2018 mang tên Trần Văn Đ1, 01 giấy xác nhận của Công ty cổ phần K2 là hợp pháp.

*Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo Lê Văn Đ đã bồi thường cho đại diện gia đình bị hại số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Đến nay, chị Hoàng Thị T là vợ của bị hại anh Trần Văn Đ1 đại diện gia đình đã nhận đủ số tiền trên và không có đề nghị gì khác.

*Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Văn Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

*Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đại diện người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo Bản án đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND huyện Cẩm Khê;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Thi hành án dân sự;
  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu HS+VP;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Xuân Bộ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Đ phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger