Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ ĐĂNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HS-ST

Ngày: 23 -5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hoà

Bà Lê Thị Thận.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: ông

Dương Thế Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2024/HSST ngày 05/02/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Hoàng S, tên gọi khác: không, sinh năm: 1999, tại: Tỉnh Đồng Nai. Căn cước công dân số: [...], nơi cấp: Cục Cảnh sát.

Nơi cư trú: tổ B, ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thành T (đã chết) và bà Đặng Thị L. Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/10/2023 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Những người tham gia tố tụng:

Người bị hại:

1/Anh Hãng A, sinh năm 1975 ( vắng mặt)

Nơi cư trú: thôn S, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.

2/ Ông Võ Văn N, sinh năm 1963 ( vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre.

3/ Anh Bùi Công T1, sinh năm 1975 ( vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp T, xã M, huyện T, tỉnh Bến Tre.

4/ Ba Mai Thị C, sinh năm 1959 ( vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre.

5/ Ông Khưu Văn T2, sinh năm 1957 ( vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo Đặng Hoàng S: Khoảng 23 giờ ngày 29/10/2023, Đặng Hoàng S đang làm thuê cho anh Cao Văn M tại chòi rẫy thuộc tiểu khu A, xã P, huyện B thì nhìn thấy xe mô tô biển số: 93N2 – 7768 của anh Hãng A C1 (mượn của anh Giàng Seo D) đang dựng trước chòi, cắm sẵn chìa khoá, không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp. S liền dắt xe đi được khoảng 20m rồi khởi động nổ máy điều khiển ra hướng đường Quốc lộ 14 thì bị anh D cùng người dân đuổi theo bắt giữ người cùng tang vật giao cho Công an xã P. Sau đó vụ việc được chuyển đến Cơ quan CSĐT – Công an huyện B điều tra giải quyết theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra còn phát hiện:

Vụ thứ nhất: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 04/7/2022, S điều khiển xe đạp chở Huỳnh Đăng K đi tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Khi đến nhà ông Bùi Công T1 tại ấp T, xã M, huyện T, tỉnh Bến Tre, K phát hiện nhà ông T3 không có cửa rào nên bảo S dừng xe, đứng ở ngoài cảnh giới còn K đi vào bên trong tìm kiếm tài sản. K vào nhà lấy được 01 máy cắt cỏ, 01 máy khoan cầm tay mang ra bên ngoài đem đến ngôi nhà hoang ở khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre cất giấu.

Vụ thứ hai: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 11/7/2022, S tiếp tục cùng Huỳnh Đăng K đi bộ tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Khi đến nhà bà Mai Thị C tại ấp T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre, thấy cửa rào không đóng, bên trong sân có chiếc xe đạp nên K đi vào lấy chiếc xe đạp dẫn ra ngoài, rồi điều khiển chở S bỏ trốn, được một đoạn thì S chở K. Khi đến nhà ông Khưu Văn T2 tại ấp T, thị trấn T, huyện T nhìn thấy bên trong có một chiếc xe mô tô hai bánh biển số: 71F7 – 5057 đang dựng bên hông nhà nên nảy sinh ý định trộm cắp. S dừng xe lại giao cho K, rồi đi vào bên trong lấy chiếc xe mô tô biển số: 71F7 – 5057 dẫn ra ngoài. K bỏ lại xe đạp, khởi động nổ máy, điều khiển xe mô tô biển số: 71F7 – 5057 chở S đến khu đất thánh tại Khu phố D, thị trấn T gỡ bỏ biển số rồi sử dụng làm phương tiện đi lại.

Vụ thứ ba: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 19/7/2022, S đi bắt “Nhái” thì gặp Nguyễn Văn T4. T4 liền rủ S đi trộm cắp chim cu đất của ông Võ Văn N tại ấp T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre thì S đồng ý. S liền điều khiển xe đạp (của T4) chở T4 đến trước cổng nhà ông N. Tại đây, S trèo qua cổng đi vào bên trong nhà còn T4 đứng ở bên ngoài cảnh giới. Khi vào bên trong, S lấy trộm được 01 chiếc lồng bên trong có 01 con chim cu rồi chuyển ra bên ngoài cho T4. S tiếp tục quay trở vào lấy trộm thêm được 01 chiếc lồng bên trong có một con chim cu rồi cầm ra bên ngoài đưa cho T4. Sau đó, S điều khiển xe đạp chở T4 ngồi phía sau ôm 02 chiếc lồng chim cu đi về nhà của T4 tại khu vực số: 32/1, Khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre cất giấu. Phát hiện bị mất tài sản nên ông N đã làm đơn trình báo đến Công an thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre. Cơ quan Công an mời làm việc, K, T4, S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Căn cứ kết luận giám định số: 12 ngày 09/6/2023 của Phân viện tại Thành phố Hồ Chí Minh – V kết luận: Qua quá trình giám định khám chuyên khoa và kết quả cận lâm sàng, xác định Lê Hoàng S1 có độ tuổi từ 22 năm đến dưới 25 năm tại thời điểm giám định.

Căn cứ kết luận giám định số: 805 ngày 07/11/2023 của Phòng K1 – Công an tỉnh B kết luận: Dấu vết đường vân trên danh chỉ bản số 48 lập ngày 21/4/2023 tại Công an huyện T mang tên Lê Hoàng S1, sinh ngày 01/01/2000, nơi cư trú: 289/1, khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre (ký hiệu A) nêu tại mục II.1 với đường vân trên tờ khai chứng minh nhân dân số: [...] mang tên Đặng Hoàng S, sinh ngày 30/01/1999, nơi cư trú: Tổ B, ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai (ký hiệu M) nêu tại mục II.2 là của cùng một người.

Căn cứ kết luận định giá tài sản số 74/KL-HĐĐG ngày 16 tháng 8 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T, tỉnh Bến Tre kết luận tại thời điểm xảy ra tội phạm: 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu ASUKA màu đỏ, MODEL. TU26PFD-101, E/NO. 030643 9B, chiều dài toàn thân máy cắt cỏ là 1,90m, lưỡi cắt bằng kim loại có giá trị là 750.000 đồng; 01máy khoan cầm tay màu xám, nhãn hiệu CROWN IMPACT DRILL CT 10065; 220-230V ~ 50/60Hz 600W Ø 13mm có giá trị là 250.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 1.000.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 80/KL-HĐĐG ngày 19 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T, tỉnh Bến Tre kết luận tại thời điểm xảy ra tội phạm: 01 chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu World, màu nâu, biển số 71F7-5057 có giá trị 1.000.000 đồng; 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Martin, màu xanh, có rổ màu xám có giá trị là 100.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 1.100.000 đồng.

Căn cứ kết luận định giá tài sản số: 68 ngày 05 tháng 8 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tụng hình sự huyện T, tỉnh Bến Tre kết luận tại thời điểm xảy ra tội phạm: 01 con chim cu đất có long màu xám đen, long ở vùng cổ có nổi cườm, trọng lượng 100 gam có giá trị: 800.000 đồng; 01 con chim cu đất có long màu xám đen, long ở vùng cổ có nổi cườm, trọng lượng 120 gam có giá trị: 1.000.000 đồng; 01 lồng chim được làm bằng gỗ, nắp trên lồng chim được đan bằng nhựa, lồng chim có kiểu dáng hình chóp tròn, chu vi nơi rộng nhất là 105cm, lồng chim có cửa bằng gỗ hình đầu trâu, móc treo bằng gỗ có hình con chim có giá trị: 150.000 đồng; 01 lồng chim được làm bằng tre, nắp trên lồng chim được đan bằng nhựa, lồng chim có kiểu dáng hình trụ tròn, đường kính 35cm, chiều cao 30cm có giá trị: 170.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là: 2.120.000 đồng.

Căn cứ kết luận định giá tài sản số: 78 ngày 01/11/2023 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện B kết luận tại thời điểm xảy ra tội phạm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại xe Taurus biển số: 93N – 27768 có giá trị 3.300.000 đồng.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội hai lần trở lên.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Về vật chứng vụ án Cơ quan CSĐT đã xử lý: 01 xe mô tô biển số: 93N – 27768 đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Giàng Seo D. 02 con chim cu đất, 02 lồng chim và 01 xe đạp đã được xử lý tại bản án số 23 ngày 20/4/2023 của Toà án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm.

Bản cáo trạng số: 24/CTr-VKS ngày 05/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Đặng Hoàng S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố khẳng định nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Đặng Hoàng S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Hoàng S từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm.

Bị cáo Đặng Hoàng S thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo S: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Đặng Hoàng S: Qua lời khai của bị cáo tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định được khoảng 23 giờ ngày 29/10/2023, bị cáo Đặng Hoàng S đang làm thuê cho anh Cao Văn M tại chòi rẫy của anh M thì nhìn thấy xe mô tô biển số: 93N2 – 7768 của anh Hãng A C1 đang dựng trước chòi, cắm sẵn chìa khoá, không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp, bị cáo S liền dắt xe đi được khoảng 20m rồi khởi động nổ máy điều khiển ra hướng đường Quốc lộ 14 thì bị anh D cùng người dân đuổi theo bắt giữ người cùng tang vật giao cho Công an xã P.

Ngoài ra vào ngày 04/7/2022 bị cáo S cùng với K vào nhà ông Bùi Công T1 lấy được 01 máy cắt cỏ, 01 máy khoan cầm tay đem đi cất giấu; ngày 11/7/2022 bị cáo S cùng với K đến nhà bà Mai Thị C lấy trộm chiếc xe đạp sau đó cả hai cùng bỏ trốn, khi đến nhà ông Khưu Văn T2 bị cáo S nhìn thấy bên trong có một chiếc xe mô tô hai bánh biển số: 71F7 – 5057 đang dựng bên hông nhà nên nảy sinh ý định trộm cắp, bị cáo S dừng xe lại giao cho K, rồi đi vào bên trong lấy chiếc xe mô tô biển số: 71F7 – 5057 dẫn ra ngoài, K bỏ lại xe đạp, khởi động nổ máy, điều khiển xe mô tô biển số: 71F7 – 5057 chở S đến khu Đ tại Khu phố D, thị trấn T gỡ bỏ biển số rồi sử dụng làm phương tiện đi lại; ngày 19/7/2022 bị cáo S gặp Nguyễn Văn T4T4 rủ S đi trộm cắp chim cu đất của ông Võ Văn N thì S đồng ý. S liền điều khiển xe đạp (của T4) chở T4 đến trước cổng nhà ông N. Tại đây, S trèo qua cổng đi vào bên trong nhà còn T4 đứng ở bên ngoài cảnh giới. Khi vào bên trong, S lấy trộm được 01 chiếc lồng bên trong có 01 con chim cu rồi chuyển ra bên ngoài cho T4. S tiếp tục quay trở vào lấy trộm thêm được 01 chiếc lồng bên trong có một con chim cu rồi cầm ra bên ngoài đưa cho T4. Sau đó, S điều khiển xe đạp chở T4 ngồi phía sau ôm 02 chiếc lồng chim cu đi về nhà của T4 cất giấu. Phát hiện bị mất tài sản nên ông N đã làm đơn trình báo đến Công an thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre. Cơ quan Công an mời làm việc, K, T4, S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Căn cứ kết luận định giá tài sản, tổng giá trị tài sản các lần trộm cắp của bị cáo là 7.520.000đ, trong đó có hai lần đủ 2.000.000đ trở lên.

Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Đặng Hoàng S là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, bị cáo tham gia trộm cắp cùng với T4, trực tiếp là người thực hành, thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại đến tài sản của người bị hại, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo còn bỏ trốn qua nhiều địa phương khác nhau. Xét toàn bộ vụ án, tính chất mức độ phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nên cần xử bị cáo với mức án thật tương xứng để răn đe giáo dục đối với bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung trong xã hội.

Đối với Nguyễn Văn T4 đã xử lý tại bản án số 23 ngày 20/4/2023 của Toà án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Đặng Hoàng S quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; tài sản đã được giao trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, gây thiệt hại không lớn; ngoài ra, về nhân thân bị cáo phạm tội lần đầu, có hoàn cảnh khó khăn, trình độ học vấn thấp. Như vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[3.2] Về tình tiết tăng nặng: bị cáo phạm tội hai lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, bị cáo có hành vi che giấu thông tin về nhân thân gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng tốn nhiều thời gian công sức để xác minh, điều tra xử lý.

[4] Về trách nhiệm dân sự: người bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra.

[5] Đối với vật chứng vụ án: 01 xe mô tô biển số: 93N – 27768 đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Giàng Seo D; 02 con chim cu đất, 02 lồng chim và 01 xe đạp đã được xử lý tại bản án số 23 ngày 20/4/2023 của Toà án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Bị cáo Đặng Hoàng S thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân, hành vi, hậu quả phạm tội của bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố bị cáo Đặng Hoàng S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Đặng Hoàng S 01 ( Một) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2023; tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án.

[2] Về trách nhiệm dân sự và vật chứng vụ án:

Về vật chứng: Chấp nhận việc xử lý vật chứng của Cơ quan CSĐT – Công an huyện B trả lại 01 xe mô tô biển số: 93N – 27768 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Giàng Seo D. 02 con chim cu đất, 02 lồng chim và 01 xe đạp đã được xử lý tại bản án số 23 ngày 20/4/2023 của Toà án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre nên HĐXX không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đặng Hoàng S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Quyền kháng cáo bản án: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • -TANDtỉnh BìnhPhước;
  • - Sở TP & Công An tỉnh BP;
  • -Công an huyện Bù Đăng;
  • - VKSND huyện Bù Đăng;
  • - CCTHADS huyện Bù Đăng;
  • - Bị cáo, Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

LƯU THÙY LINH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger