|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G TỈNH BẠC LIÊU ---------- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------- |
|
Bản án số: 41/2024/DS-ST Ngày 23 - 4 - 2024 Tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Liệt
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thành Nhạn
- Bà Cao Thị Mỹ Phượng
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Luân, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã G.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên toà: Ông Châu Hoa Đăng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 55/2020/TLST-DS ngày 07 tháng 01 năm 2020 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXX-ST ngày 01 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1955 (có mặt)
Trú tại: Ấp M, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1951 (vắng mặt)
Trú tại: Ấp X, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bùi Trọng N, sinh năm 1970 (vắng mặt)
- Bùi Minh H, sinh năm 1975 (vắng mặt)
- Bùi Trung D, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Cùng trú tại: Ấp Xóm Mới, xã Tân Thạnh, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu
- Nguyễn Văn M, sinh năm 1953 (có mặt)
Trú tại: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau
- Ủy ban nhân dân thị xã G
Do ông Đỗ Thanh T làm đại diện theo ủy quyền (có yêu cầu vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ông Nguyễn Văn L trình bày ý kiến theo đơn khởi kiện ngày 29/8/2019, đơn khởi kiện bổ sung ngày 31/10/2022 và tại phiên tòa:
Cha ông là ông Nguyễn Văn T1 (chết) và mẹ là Võ Thị X (chết) có 27 công, một góc tư đất làm ruộng tại ấp X, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, năm 1991 cha mẹ cho ông khoản 05 công đất tầm cấy, việc cho đất không làm giấy tờ, đến năm 2014 các anh em trong gia đình thống nhất ký tên vào biên bản cho đất. Do Nhà nước có nhu cầu làm kênh thủy lợi nên múc phần đất của ông hết một phần, phần còn lại theo đo đạc thực tế là 1501,1m², năm 1994 bà Nguyễn Thị B đã chiếm phần đất của ông sử dụng từ đó đến nay, do đó ông yêu cầu bà Nguyễn Thị B trả lại cho ông phần đất 1501,1m².
Bà Nguyễn Thị B trình bày ý kiến trong hồ sơ:
Vào năm 1990 Nhà nước múc kênh xáng Láng Trâm vợ chồng bà (ông Bùi Minh P là chồng đã chết) có phần đất khoản 5500m² kênh xáng múc ra làm 02 phần tương đối bằng nhau, một phần bên này kênh và 01 phần bên kia kênh, ông Nguyễn Văn M là anh ruột ông Nguyễn Văn L có phần đất cặp ranh với đất của bà, đất của ông M cũng bị xáng múc ta làm 02 phần như đất của bà, để thuận tiệc cho việc sản xuất nên vợ chồng bà thỏa thuận với ông M đổi đất, hai bên đổi ngang với nhau không có đo đạc, không lập văn bản, việc đổi đất có T2 ấp thời điểm đó là ông Trương Hữu B1 và ông Nguyễn Văn L1 có làm giấy xác nhận. Đến năm 2016 vợ chồng bà làm thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thì phát sinh tranh chấp nên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định, bà không đồng ý trả phần đất 1501,1m² cho ông Nguyễn Văn L.
Ông Nguyễn Văn M trình bày ý kiến trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa:
Cha mẹ ông là ông Nguyễn Văn T1 và bà Võ Thị X (đã chết hết) có phần đất 28 công tầm cấy và hai góc ba đất, tại ấp X, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, năm 1981 ông được cha mẹ cho 05 công đất tầm cấy, đến năm 1993 thì kênh xáng Láng Trâm múc qua phần đất của ông chỉ còn lại 2,5 công, phần đất của bà Nguyễn Thị B cũng nằm cặp với đất của ông, cũng bị xáng múc ngang chỉ còn lại khoản 140m² nhưng bị sạt lở hết, ông xác định không có đổi đất với vợ chồng bà Nguyễn Thị B. Năm 1991 ông Nguyễn Văn L được cha mẹ cho 05 công đất, đến năm 1993 xáng múc hết chỉ còn độ khoản 700 – 800 m², phần đất còn lại của ông L để trống, năm 1993 mẹ ông Bùi Minh P chết chôn trên đất của ông L ông có biết nhưng không phản đối, khoản 1 năm sau ông L hay được có phản đối nhưng không có thưa kiện ra chính quyền.
Đại diện UBND thị xã G có ý kiến:
Về thủ tục cấp giấy chứng nhận kê khai đăng ký đất đai năm 1983 không có văn bản pháp luật quy định cụ thể đối với thủ tục cấp giấy chứng nhận, do đó Ủy ban nhân dân thị xã G không có cơ sở xác định việc cấp giấy chứng nhận kê khai đăng ký đất đai cho ông Bùi Minh P vào ngày 30/8/1983 có đảm bảo đúng trình tự thủ tục thời điểm đó hay không.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến và đề nghị:
Qua nghiên cứu các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng, các tình tiết vụ án chưa được xác minh, làm rõ cụ thể:
- Giấy chứng kê khai đăng ký đất đai thửa 513 năm 1983 là của ông Bùi Minh P nhưng đến năm 1990 mới đổi đất, xác định lại giấy xác nhận có đúng thửa tranh chấp không?
- Năm 1990 đổi đất với ông Nguyễn Văn M nhưng đơn xác nhận không có chữ ký của ông M. Vậy xác định xác nhận như thế nào (ghi lời khai ông Trương Hữu B1, Nguyễn Văn L1).
- Ông Nguyễn Văn M xác nhận năm 1981 cha mẹ đã cho ông 05 công đất cặp bà Nguyễn Thị B, bà B xác định đổi đất với ông M, còn ông M không thừa nhận có đổi đất với bà B. Vậy thựa tế 05 công đất của ông M hiện nay còn sử dụng không?
- Thời gian đổi đất với ông M năm 1990 phần đất tranh chấp mà ông Nguyễn Văn L sử dụng đất này đến năm 1993 bà B không có ý kiến gì? Ông L được cho đất năm 1991 sử dụng đến năm 1993. Vậy năm 1991 cho xác định đúng vị trí đất mới sử dụng, bà B đã có sử dụng phần đất tranh chấp?
- Ông M xác định năm 1993 xáng mới cuốc kênh, còn bà B xác định năm 1990, đổi đất năm 1990. Cần làm rõ thời điểm cuốc kênh để xác định lại đơn xác nhận của trưởng ấp? Khi cho đất ông L sử dụng đã múc kênh chưa?
- Việc ông L xác định bà B chiếm đất từ năm 1994, ông L biết thời điểm nào? Việc chôn cất mồ mã ông hay thời gian nào? Có biện pháp ngăn cản gì khi sự việc chiếm đất và chôn cất mồ mã?
- Thửa đất số 513 và 180 có liên quan như thế nào, có phải là một thửa không? Thời gian đổi đất năm 1990 nhưng đến ngày 27/3/2008 mới đăng ký sổ mục kê?
Đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để điều tra, xác minh thu thập thêm tài liệu, chứng cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã G. Đại diện UBND thị xã G có đề nghị xét xử vắng mặt, bà Nguyễn Thị B, Bùi Trọng N, Bùi Minh H, Bùi Trung D đã được triệu tập lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định diện tích đất tranh chấp 1501,1m² thuộc một phần thửa số: 180, tờ bản đồ số: 05 do ông Bùi Minh P đứng tên trên sổ mục kê.
Theo ông Nguyễn Văn L trình bày phần đất tranh chấp 1501,1m² là đất của cha mẹ ông cho từ năm 1991, khi cho đất cũng không có lập giấy tờ cho, tặng và cũng không có xác nhận của chính quyền địa phương. Ông Nguyễn Văn L cung cấp chứng cứ là biên bản họp gia đình lập ngày 19/10/2014 có các anh em là Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn N1 và Nguyễn Văn H1 đồng ý ký văn bản, cắt đất phụ ấm cho ông Nguyễn Văn L 05 công đất tầm cấy thể hiện vị trí hướng Tây giáp ranh ông C, hướng Nam giáp ông Nguyễn Văn C1, qua làm việc với ông Nguyễn Văn M ngày 01/12/2014 tại UBND xã T ông Nguyễn Văn M không thừa nhận có ký tên vào biên bản ngày 19/10/2014. Căn cứ vào biên bản lập ngày 19/10/2014 cũng không có căn cứ là ông Nguyễn Văn T1 và bà Võ Thị X cho ông Nguyễn Văn L 05 công đất vào thời điểm năm 1991.
Thể hiện hồ sơ, quá trình thu thập chứng cứ và tài phiên tòa hôm nay ông Nguyễn Văn L không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ để chứng minh ông Nguyễn Văn T1 và bà Võ Thị X có phần đất và cho lại ông Nguyễn Văn L 05 công vào năm 1991, sau đó bị xáng múc còn lại 1501,1m²tại ấp X, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, ông Nguyễn Văn L xác định cha mẹ ông có đất để cho ông, tuy nhiên ông không cung cấp được những văn bản, giấy tờ để chứng minh nguồn gốc đất là của ông Nguyễn Văn T1 và bà Võ Thị X để thực hiện quyền tặng cho ông Nguyễn Văn L phần đất.
Ông Nguyễn Văn L cung cấp đơn xác nhận ngày 18/11/2014 có Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn M1, Nguyễn Văn C1 và Phan Văn C3 xác nhận; đơn yêu cầu điều tra nhân chứng ngày 09/02/2023 có ông Nguyễn Văn M2 và ông Nguyễn Văn B2 xác nhận (có làm việc với ông Nguyễn Văn M2 và ông Nguyễn Văn B2) với nội dung là những người này cặp ranh đất với ông Nguyễn Văn L biết sự việc ông Nguyễn Văn L có đất được 01 năm. Tuy nhiên, những chứng cứ này cũng không đủ căn căn cứ để chứng minh cho ông Nguyễn Văn L có phần đất đang tranh chấp với bà Nguyễn Thị B, các người làm chứng là ông Nguyễn Văn M2 và ông Nguyễn Văn B2 cũng xác định ông Nguyễn Văn L có sử dụng đất khoản vài năm (ông L khai tại phiên tòa sử dụng đất được 01 năm), từ năm 1993 khi xáng múc đất thì ông L không có sử dụng phần đất này.
Ông Nguyễn Văn L là người khởi kiện, ông L có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp theo quy định tại Điều 6 và 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, ông L không đưa ra được chứng cứ để chứng minh nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét.
Theo đơn xác nhận ngày 15/3/1990 của ông Trương Hữu B1 là nguyên Trưởng ban N2, giấy xác nhận của ông Nguyễn Văn L1 ngày 18/01/2018 là phù hợp với lời khai của bà Nguyễn Thị B, có sự việc đổi đất giữa ông Bùi Minh P với ông Nguyễn Văn M. Ông Nguyễn Văn M trình bày ông không đổi đất cho vợ chồng bà B, ông P, tuy nhiên ông M là anh ruột ông Nguyễn Văn L nên lời trình bày của ông Nguyễn Văn M không khách quan.
Tại trích lục bản đồ địa chính, biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 30/11/2023 cũng như văn bản trả lời ngày 11/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã G xác định phần đất tranh chấp 1501,1m² do ông Bùi Minh P đăng ký kê khai và đứng tên trong sổ mục kê đất đai của xã T ngày 27/3/2008 thửa số: 180, tờ bản đồ số: 05.
Theo ông Nguyễn Văn L trình bày khi cho đất ông làm được một năm từ năm 1993 đến nay thì ông không sử dụng phần đất này, bà Nguyễn Thị B là người quản lý, sử dụng phần đất, mặt khác măm 1994 mẹ ông Bùi Minh P làm mộ chôn trên phần đất, ông Nguyễn Văn M là anh ruột ông L khai có hay biết nhưng không phản đối, sau đó ông L cũng biết nhưng không thưa kiện gì. Đến năm 1995 khi Nhà nước có chủ trương kê khai đất đai, làm giấy chứng nhận quyền sử đất ông Nguyễn Văn L không đăng ký kê khai phần đất.
Như vậy, ông Nguyễn Văn L kiện đòi bà Nguyễn Thị B trả lại phần đất 1501,1m² là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn L là người cao tuổi, có đơn yêu cầu miễn án phí, nên được xem xét miễn án phí cho ông L.
Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 2.750.000 đồng ông Nguyễn Văn L phải chịu, ông Nguyễn Văn L đã nộp xong.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để thu thập tài liệu chứng cứ thêm, Hội đồng xét xử nhận thấy các đề nghị của Viện kiểm sát đã được làm rõ, không cần thiết nên không chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 6; khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn L đòi bà Nguyễn Thị B trả lại diện tích đất 1501,1m² tại thửa số: 180, tờ bản đồ số: 05 do ông Bùi Minh P đứng tên trên sổ mục kê đất đai của xã T lập ngày 27/3/2008, phần đất tại ấp X, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu có vị trí như sau:
- Hướng Đông giáp chỉ giới huy hoạch giao thông của đường L cạnh dài 71,03m
- Hướng Tây giáp Giảng T cạnh dài 57,8m
- Hướng Nam giáp Giảng T cạnh dài 34,06m, một phần giáp Nguyễn Thị B cạnh dài 15.21m
- Hướng Bắc giáp Trương Kiều T3 cạnh dài 2,9m
[2] Về án phí: Ông Nguyễn Văn L là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định, ông Nguyễn Văn L đã nộp tạm ứng án phí 1.150.000 đồng ngày 03/01/2020 theo biên lai thu số 0001413 và 300.000 đồng ngày 10/11/2022 theo biên lai thu số 0004512 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã G được hoàn lại.
[3]Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 2.750.000 đồng ông Nguyễn Văn L phải chịu, ông Nguyễn Văn L đã nộp xong.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tất Liệt |
Bản án số 41/2024/DS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 41/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lo - Bẩy
