TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2024/DS-ST Ngày: 23-4-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hữu Lợi
Bà Nguyễn Thị Tĩnh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Phương Uyên - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 353/2023/TLST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ
Địa chỉ trụ sở: T, số A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: bà Lưu Trần Hồng P; Chức vụ: Phó trưởng phòng KHCN – Ngân hàng thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh L; Địa chỉ: Số A H, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An. (Theo văn bản ủy quyền số 656/UQ.BIDV.LA-QLRR ngày 25/9/2023). (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
Bị đơn:
1. Ông Trần Minh T1, sinh năm 1992
Địa chỉ: Số I Chung cư S, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
2. Bà Huỳnh Thị Cẩm T2, sinh năm 1995
Địa chỉ: Số I Chung cư S, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 25 tháng 9 năm 2023 và các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Đ do bà Lưu Trần Hồng P đại diện trình bày:
Vào ngày 20/01/2020, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ và ông Trần Minh T1 và bà Huỳnh Thị Cẩm T2 đã ký kết Hợp đồng tín dụng số: 01/2020/910634847/HĐTD, cụ thể nội dung như sau: số tiền vay: 800.000.000 đồng; Mục đích vay: hoàn vốn mua đất; Lãi suất cho vay: 9.5%/năm, cố định trong vòng 12 tháng đầu tiên kể từ thời điểm giải ngân lần đầu (đến hết ngày 04/01/2023), sau thời gian áp dụng lãi suất ưu đãi trên, sẽ áp dụng lãi suất thả nổi và được điều chỉnh 06 tháng 01 lần vào ngày 01/01 và 01/7 hàng năm theo thông báo lãi suất của Ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh, lãi suất điều chỉnh là lãi suất mà Ngân hàng đang áp dụng tại thời điểm điều chỉnh; Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn; Thời hạn vay: 180 tháng.
Để bảo đảm cho số nợ trên thì ông Trần Minh T1 và bà Huỳnh Thị Cẩm T2 có ký với Ngân hàng thương mại cổ phần Đ hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2020/10634847/HĐBĐ ngày 17/01/2020 để thế chấp các tài sản như sau:
- Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 3934, tờ bản đồ số 2, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Diện tích thế chấp: 109,5m²; Hình thức sử dụng: sử dụng riêng; Mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn; Thời hạn sử dụng đất: Lâu dài; Nguồn gốc sử dụng: Nhận chuyển nhượng đất được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất. Chủ sử dụng quyền sử dụng đất nêu trên là ông Trần Minh T1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 242762, số vào sổ cấp GCN: CS03099 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 09/8/2019. Cùng toàn bộ tài sản gắn liền khác bao gồm: các tài sản đã, đang và sẽ hình thành trong tương lai gắn liền với tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và các công trình, máy móc, trang thiết bị, hoa màu, cây lâu năm và vật kiến trúc trên đất do bên thế chấp cải tạo, xây dựng thêm gắn liền với tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, đều thuộc tài sản bảo đảm. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
- Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 3924, tờ bản đồ số 2, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Diện tích thế chấp: 102,5m²; Hình thức sử dụng: sử dụng riêng; Mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn; Thời hạn sử dụng đất: Lâu dài; Nguồn gốc sử dụng: Nhận chuyển nhượng đất được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất. Chủ sử dụng quyền sử dụng đất nêu trên là ông Trần Minh T1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 242761, số vào sổ cấp GCN: CS03100 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 09/8/2019. Cùng toàn bộ tài sản gắn liền khác bao gồm: các tài sản đã, đang và sẽ hình thành trong tương lai gắn liền với tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và các công trình, máy móc, trang thiết bị, hoa màu, cây lâu năm và vật kiến trúc trên đất do bên thế chấp cải tạo, xây dựng thêm gắn liền với tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, đều thuộc tài sản bảo đảm. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Ngày 20/01/2020, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ đã giải ngân đầy đủ số tiền vay cho ông Trần Minh T1 và bà Huỳnh Thị Cẩm T2 theo Hợp đồng tín dụng số 01/2020/910634847/HĐTD ngày 20/01/2020 với tổng số tiền là: 800.000.000 đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Trần Minh T1 và bà Huỳnh Thị Cẩm T2 đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết, nên khoản vay trên đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 20/6/2023.
Cho đến nay ông Trần Minh T1 và bà Huỳnh Thị Cẩm T2 còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền gốc và lãi là 676.479.136đ (Sáu trăm bảy mươi sáu triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn một trăm ba mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc là 613.100.000₫ (Sáu trăm mười ba triệu một trăm nghìn đồng) và tiền lãi tạm tính đến ngày 23/4/2024 là 63.379.136₫ (Sáu mươi ba triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn một trăm ba mươi sáu đồng).
Nay Ngân hàng thương mại cổ phần Đ yêu cầu ông Trần Minh T1 và bà Huỳnh Thị Cẩm T2 có nghĩa vụ liên đới trả số tiền gốc và lãi là 676.479.136đ (Sáu trăm bảy mươi sáu triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn một trăm ba mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc là 613.100.000₫ (Sáu trăm mười ba triệu một trăm nghìn đồng) và tiền lãi tạm tính đến ngày 23/4/2024 là 63.379.136₫ (Sáu mươi ba triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn một trăm ba mươi sáu đồng). Yêu cầu ông Trần Minh T1 và bà Huỳnh Thị Cẩm T2 tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng theo mức lãi suất ghi trong Hợp đồng tín dụng trên số tiền thực nợ kể từ ngày 24/4/2024 cho đến khi thánh toán xong khoản nợ. Đồng thời yêu cầu ông Trần Minh T1 và bà Huỳnh Thị Cẩm T2 tiếp tục thực hiện hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2020/10634847/HĐBĐ ngày 17/01/2020 để đảm bảo thi hành án.
Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các Thông báo thụ lý, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt và không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vụ án không tiến hành hòa giải được và được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.
Ngày 23/3/2024, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát cho rằng:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của các đương sự, việc xác định thẩm quyền, tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ của Tòa án từ khi thụ lý và trong quá trình xét xử tại phiên tòa đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Đ với ông Trần Minh T1, bà Huỳnh Thị Cẩm T2 có chữ ký ông T1 và bảng tóm tắt sao kê dư nợ, xác định ông T1 và bà T2 có vay Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền: 800.000.000 đồng; Mục đích vay: hoàn vốn mua đất; Lãi suất cho vay: 9.5%/năm, cố định trong vòng 12 tháng đầu tiên kể từ thời điểm giải ngân lần đầu (đến hết ngày 04/01/2023), sau thời gian áp dụng lãi suất ưu đãi trên, sẽ áp dụng lãi suất thả nổi và được điều chỉnh 06 tháng 01 lần vào ngày 01/01 và 01/7 hàng năm theo thông báo lãi suất của Ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh, lãi suất điều chỉnh là lãi suất mà Ngân hàng đang áp dụng tại thời điểm điều chỉnh; Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn; Thời hạn vay: 180 tháng.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 3934, tờ bản đồ số 2, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 242762, số vào sổ cấp GCN: CS03099 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 09/8/2019 và Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 3924, tờ bản đồ số 2, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 242761, số vào sổ cấp GCN: CS03100 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 09/8/2019, cùng toàn bộ tài sản khác gắn liền với đất.
Trong thời gian thực hiện nghĩa vụ trả nợ, ông T1 và bà T2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện để ông T1 và bà T2 trả nợ, nhưng ông T1 và bà T2 vẫn không thực hiện.
Dư nợ của ông T1 và bà T2 theo Hợp đồng tín dụng số: 01/2020/910634847/HĐTD tạm tính đến ngày 23/4/2024 như sau: nợ vay gốc là 613.100.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 23/4/2024 là 63.379.136 đồng, tổng cộng nợ gốc và nợ lãi là 676.479.136 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T1 và bà T2 không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không có lời khai thể hiện ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, căn cứ vào chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thì ông T1 và bà T2 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số I Chung cư S, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T1 và bà T2 nhưng ông T1 và bà T2 vẫn cố tình trốn tránh. Do đó, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ khởi kiện yêu cầu buộc ông T1 và bà T2 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày đến ngày 23/4/2024 là 676.479.136 đồng, yêu cầu ông T1 và bà T2 tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh sau ngày 23/4/2024 và tiếp tục thực hiện hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2020/10634847/HĐBĐ ngày 17/01/2020. Vì vậy, căn cứ vào Điều 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
Ông T1 và bà T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và toàn bộ chi phí tố tụng khác theo quy định, hoàn tạm ứng án phí cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ có đơn khởi kiện tranh chấp đối với ông Trần Minh T1 và bà Huỳnh Thị Cẩm T2 về yêu cầu trả số nợ vay trong hợp đồng vay tài sản. Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Tân An thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
[1.2] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, ông Trần Minh T1 và bà Huỳnh Thị Cẩm T2 đã được Tòa án thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng vắng mặt. Trong quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về số nợ vay: Theo Hợp đồng tín dụng số 01/2020/910634847/HĐTD ngày 20/01/2020 và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: vào ngày 20 tháng 01 năm 2020, ông Trần Minh T1 và bà Huỳnh Thị Cẩm T2 có vay Ngân hàng thương mại cổ phần Đ – Chi nhánh L số tiền 800.000.000 đồng. Hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi, lãi suất vay là 9.5%/năm, cố định trong vòng 12 tháng đầu tiên kể từ thời điểm giải ngân lần đầu (đến hết ngày 04/01/2023), sau thời gian áp dụng lãi suất ưu đãi trên, sẽ áp dụng lãi suất thả nổi và được điều chỉnh 06 tháng 01 lần vào ngày 01/01 và 01/7 hàng năm theo thông báo lãi suất của Ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh, lãi suất điều chỉnh là lãi suất mà Ngân hàng đang áp dụng tại thời điểm điều chỉnh; Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn, thời hạn vay là 180 tháng; Phương thức trả nợ: nợ gốc trả 01 tháng 01 lần vào ngày 20 tây hàng tháng, ngày trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 20/02/2020, số tiền gốc phải trả mỗi kỳ là : 4.450.000đ, kỳ cuối trả số tiền 3.450.000đ, lãi trả hàng tháng vào ngày 20 tây, mục đích vay là hoàn vốn mua đất. Ngày 20/01/2020, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ đã giải ngân đầy đủ số tiền vay cho ông Trần Minh T1 và bà Huỳnh Thị Cẩm T2 theo Hợp đồng tín dụng số 01/2020/910634847/HĐTD ngày 20/01/2020 với tổng số tiền là: 800.000.000 đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Trần Minh T1 và bà Huỳnh Thị Cẩm T2 đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết, nên khoản vay trên đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 20/6/2023. Đến nay ông T1 và bà T2 còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền 676.479.136đ (Sáu trăm bảy mươi sáu triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn một trăm ba mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc là 613.100.000đ (Sáu trăm mười ba triệu một trăm nghìn đồng) và tiền lãi tạm tính đến ngày 23/4/2024 là 63.379.136₫ (Sáu mươi ba triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn một trăm ba mươi sáu đồng).
Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định cho ông T1 và bà T2 thể hiện việc Ngân hàng thương mại cổ phần Đ khởi kiện nhưng ông T1 và bà T2 vắng mặt và không có ý kiến, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
Do ông T1 và bà T2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay tài sản nên yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ là có căn cứ, buộc ông T1 và bà T2 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ nợ gốc là 613.100.000₫ (Sáu trăm mười ba triệu một trăm nghìn đồng) và nợ lãi tính đến ngày 23/4/2024 là 63.379.136₫ (Sáu mươi ba triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn một trăm ba mươi sáu đồng). Tổng cộng nợ gốc và nợ lãi là 676.479.136đ (Sáu trăm bảy mươi sáu triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn một trăm ba mươi sáu đồng) theo quy định tại các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.2] Về tài sản thế chấp: Để đảm bảo cho khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 01/2020/910634847/HĐTD ngày 20/01/2020, ông Trần Minh T1 và bà Huỳnh Thị Cẩm T2 đã ký Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2020/10634847/HĐBĐ ngày 17/01/2020 với Ngân hàng thương mại cổ phần Đ – Chi nhánh L, tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 3934, tờ bản đồ số 2, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Chủ sử dụng quyền sử dụng đất nêu trên là ông Trần Minh T1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 242762, số vào sổ cấp GCN: CS03099 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 09/8/2019 và Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 3924, tờ bản đồ số 2, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Chủ sử dụng quyền sử dụng đất nêu trên là ông Trần Minh T1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 242761, số vào sổ cấp GCN: CS03100 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 09/8/2019. Cùng toàn bộ tài sản gắn liền khác bao gồm: các tài sản đã, đang và sẽ hình thành trong tương lai gắn liền với tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và các công trình, máy móc, trang thiết bị, hoa màu, cây lâu năm và vật kiến trúc trên đất do bên thế chấp cải tạo, xây dựng thêm gắn liền với tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, đều thuộc tài sản bảo đảm.
Hợp đồng thế chấp bất động sản được Văn phòng C vào ngày 17/01/2020 và đăng ký giao dịch đảm bảo tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh tiền G vào ngày 17/01/2020, đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật nên hợp pháp.
Do đó, yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ về việc yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng thế chấp để đảm bảo cho Ngân hàng thu hồi nợ là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 299, 323 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên chấp nhận.
[3] Phát biểu của Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về hợp đồng vay và hợp đồng thế chấp tài sản là có căn cứ.
[4] Về chi phí tố tụng: ông Trần Minh T1 và bà Huỳnh Thị Cẩm T2 có nghĩa vụ chịu 7.000.000 đồng. Ngân hàng thương mại cổ phần Đ đã nộp tạm ứng số tiền trên. Do đó, ông T1 và bà T2 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền 7.000.000 đồng.
[5] Về án phí: ông T1 và bà T2 có nghĩa vụ liên đới chịu 31.059.165₫ (Ba mươi mốt triệu không trăm năm mươi chín nghìn một trăm sáu mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Ngân hàng thương mại cổ phần Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do toàn bộ yêu cầu khởi kiện được chấp nhận. Hoàn trả tạm ứng án phí cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 463, Điều 466, Điều 470 và Điều 299, Điều 317, Điều 318 và Điều 323 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản đối với ông Trần Minh T1 và bà Huỳnh Thị Cẩm T2.
1.1. Về số nợ vay: Buộc ông Trần Minh T1 và bà Huỳnh Thị Cẩm T2 có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số nợ vay gốc là 613.100.000₫ (Sáu trăm mười ba triệu một trăm nghìn đồng) và tiền lãi tính đến ngày 23/4/2024 là 63.379.136₫ (Sáu mươi ba triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn một trăm ba mươi sáu đồng). Tổng cộng nợ gốc và nợ lãi là 676.479.136₫ (Sáu trăm bảy mươi sáu triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn một trăm ba mươi sáu đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 23/4/2024 ông Trần Minh T1 và bà Huỳnh Thị Cẩm T2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
1.2. Về xử lý tài sản thế chấp: Khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà ông Trần Minh T1 và bà Huỳnh Thị Cẩm T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và tiền lãi, thì Q sử dụng đất tại thửa đất số 3934, tờ bản đồ số 2, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Diện tích: 109,5m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 242762, số vào sổ cấp GCN: CS03099 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 09/8/2019 cho ông Trần Minh T1 và Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 3924, tờ bản đồ số 2, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Diện tích: 102,5m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 242761, số vào sổ cấp GCN: CS03100 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 09/8/2019 cho ông Trần Minh T1, cùng toàn bộ tài sản gắn liền khác gắn liền với đất đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2020/10634847/HĐBĐ ngày 17/01/2020 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Đ với ông Trần Minh T1 và bà Huỳnh Thị Cẩm T2 được phát mãi để đảm bảo thi hành án đối với số nợ trên cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
2. Về chi phí tố tụng: ông Trần Minh T1 và bà Huỳnh Thị Cẩm T2 phải chịu 7.000.000₫ (Bảy triệu đồng).
Ngân hàng thương mại cổ phần Đ đã nộp tạm ứng số tiền trên nên ông Trần Minh T1 và bà Huỳnh Thị Cẩm T2 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền 7.000.000₫ (Bảy triệu đồng).
3. Về án phí: ông Trần Minh T1 và bà Huỳnh Thị Cẩm T2 có nghĩa vụ liên đới chịu 31.059.165đ (Ba mươi mốt triệu không trăm năm mươi chín nghìn một trăm sáu mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 14.738.539₫ (Mười bốn triệu bảy trăm ba mươi tám nghìn năm trăm ba mươi chín đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002821 ngày 25/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - TAND Tỉnh LA; - VKSND TPTA; - Các đương sự; - CCTHA; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Cẩm Nhung |
Bản án số 41/2024/DS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 41/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng BIDV "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" Trần Minh Thuận
