Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠC THỦY

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HS-ST

Ngày: 22/11/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Vũ Hải Dương.

- Hội thẩm nhân dân: Ông: Nguyễn Huy Vinh; Bà: Hoàng Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà: Đỗ Thị Thanh Hoa, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hoà Bình tham gia phiên toà: Ông: Nguyễn Trần Hiếu, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Hồng Q, sinh ngày 10/6/1970; tại: L, Hòa Bình.

    Nơi ĐKHKTT: thôn Tân Thành, xã Phú Nghĩa, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hoà Bình.

    Chỗ ở: khu 11-12, thị trấn Chi Nê, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình.

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn S (Đã chết); con bà: Trần Thị L (Đã chết); Vợ, con: không.

    Tiền sự: không; Tiền án: không.

    Nhân thân: Năm 2017 Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La xử phạt 18 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình. (Có mặt tại phiên tòa).

  2. Họ và tên: Trịnh Văn K, sinh ngày 02/01/1986; tại: L, Hòa Bình.

    Nơi ĐKHKTT: thôn S, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trịnh Minh T (Đã chết); con bà: Bùi Thị L1, sinh năm 1939; Vợ: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1985, con: 02 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2019.

    Tiền sự: không; Tiền án: không. Nhân thân: không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình. (Có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo Trịnh Văn K: Ông Nguyễn Hữu D - Trợ giúp viên pháp lý của T1 tân Trợ giúp pháp lý tỉnh Hòa Bình. (Có mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Lại Văn T2, sinh năm 1984. (Vắng mặt)

    Trú tại: thôn H, xã T, huyện P, TP ..

  • + Chị Dương Thu N, sinh năm 1977. (Có mặt)

    Trú tại: khu A, thị trấn C, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

- Người chứng kiến:

  • Ông Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1966. (Vắng mặt)

    Trú tại: thôn Đ, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hồng Q và Trịnh Văn K có mối quan hệ quen biết với nhau từ trước và cùng là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy nên thường đi mua ma túy để sử dụng cho bản thân.

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 25/6/2024, Q điều khiển xe mô tô AIRBLADE màu ghi BKS 29Y7-020.49 từ nhà tại khu A, thị trấn C, huyện L, tỉnh Hòa Bình đến nhà Trịnh Văn K ở thôn S, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình rủ K cùng đi mua ma túy tại thị trấn V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội về để sử dụng thì K đồng ý. Sau đó, Q điều khiển xe mô tô chở K ngồi phía sau đến khu vực thị trấn V, Q đưa cho K số tiền 3.500.000 đồng để K mua ma túy. Sau đó K gặp và mua được ma túy của một người đàn ông không quen biết khoảng 30 tuổi, dáng cao gầy, mặc quần áo tối màu, có hình xăm con rắn ở vùng cổ dưới mang tai bên phải đi xe máy không có biển kiểm soát với số tiền 3.500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Q điều khiển xe mô tô chở K đi về huyện L. Trên đường về K đưa gói ma túy cho Q, Q đã để ma túy vào túi áo phía trước bên trái. Sau đó Q chở K về nhà K tại thôn S, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình và hẹn K sáng hôm sau đến nhà Q để cùng sử dụng ma túy, rồi Q đi về nhà ở tại khu A, thị trấn C, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Khi Q điều khiển xe mô tô BKS 29Y7-020.49 đến thôn Đ, xã P, huyện L thì bị tổ công tác Công an huyện L phát hiện bắt quả tang đang có hành vi tàng trữ 05 (năm) gói nilon màu vàng có chứa các chất ma túy; 01 (một) gói nilon màu xanh bên trong có chứa chất ma túy và 01 (một) gói nilon màu hồng bên trong có chứa một viên nén màu đỏ trong túi áo bên trái Q đang mặc.

Chiều ngày 25/6/2024, Trịnh Văn K đã đến Cơ quan Công an huyện L xin đầu thú và khai nhận toàn bộ nội dung sự việc.

Tang vật được thu giữ gồm:

  • + 01 (một) túi nilon màu trắng trong miệng có viền đỏ bên trong gồm:
    • + 05 (năm) gói giấy nilon màu vàng được gói bằng giấy có các dòng kẻ bên trong có chứa các chất bột dạng cục màu trắng.
    • + 01 (một) gói giấy nilon màu xanh được gói bằng giấy trắng trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng.
    • + 01 gói nilon màu hồng kích thước 3cm x 2,5cm bên trong có chứa một viên nén màu đỏ có chữ WY.
  • + 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại xe AIRBLADE màu ghi BKS 29Y7-020.49 xe cũ đã qua sử dụng.

Số vật chứng trên được thu giữ và được đánh số thứ tự và niêm phong trong phong bì dán kín, có dấu tròn đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện L và có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham gia. Ký hiệu: G1.

Ngày 25/6/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện L ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Hồng Q tại: khu A, thị trấn C, huyện L, tỉnh Hòa Bình, Quá trình khám xét không phát hiện đồ vật, tài liệu liệu liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Ngày 25/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình ra Quyết định trưng cầu giám định đối với các mẫu vật thu giữ của Nguyễn Hồng Q và Trịnh Văn K. Tại kết luận giám định số: 329/KL-KTHS, ngày 02/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận:

  • - Viên nén màu đỏ ký hiệu A1 trong phong bì niêm phong ký hiệu G1 gửi giám định có khối lượng 0,10g (Không phẩy một gam), là ma túy, loại Methamphetamine.
  • - Chất bột dạng cục màu trắng ký hiệu A2, A3, A4, A5, A6, A7 trong phong bì niêm phong ký hiệu G1 gửi giám định có tổng khối lượng 1,95g (Một phẩy chín mươi lăm gam), là ma túy, loại Heroine (H).

Methamphetamine nằm trong danh mục IIC, số thứ tự: 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Heroine (H) nằm trong danh mục IA, số thứ tự: 09, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda AIRBLADE màu ghi BKS:29Y7-020.49, xe cũ đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên không nằm trong tàng thư vật chứng và chưa xác định được chủ sở hữu.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Q, K ngày 25/6/2024 ở thị trấn V, huyện Ứ, Hà Nội. CQĐT Công an huyện L đã phối hợp với Công an thị trấn V, huyện Ứ tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể của đối tượng nên chưa có căn cứ để xử lý.

Tại bản cáo trạng số: 40/CT-VKSLT ngày 17/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện L đã truy tố Nguyễn Hồng Q, Trịnh Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (BLHS).

* Tại phiên tòa:

  • - Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu; do là người sử dụng ma túy nên các bị cáo đã thực hiện hành vi mua ma túy của một người đàn ông không quen biết ở khu vực thị trấn V, huyện Ứ, TP Hà Nội mục đích để sử dụng cho bản thân.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị N khai nhận có mua xe mô tô BKS: 29Y7-020.49 của một người đàn ông không quen biết, không có giấy tờ gì. Bị cáo Q lấy xe đi chị không biết, chị đề nghị được nhận lại xe trên làm phương tiện đi lại, không yêu cầu bị cáo Q bồi thường về dân sự.
  • - Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật, đồng thời phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
  • + Về trách nhiệm hình sự:
    • Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS.
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Q từ 24 đến 36 tháng tù.
    • Xử phạt bị cáo Trịnh Văn K từ 18 đến 24 tháng tù.
  • + Về hình phạt bổ sung: không đề nghị áp dụng hình phạt tiền do các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản.
  • + Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu các bị cáo bồi thường về dân sự, nên không đề nghị giải quyết.
  • + Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật TTHS;

    Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định.

    Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda AIRBLADE màu ghi BKS:29Y7-020.49, xe cũ đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên không nằm trong tàng thư vật chứng và chưa xác định được chủ sở hữu nên đề nghị HĐXX giao cho Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình tiếp tục xác minh và xử lý theo quy định của pháp luật.

  • + Áp dụng: khoản 1,3 điều 329 Bộ luật TTHS tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
  • + Về án phí và quyền kháng cáo đề nghị HĐXX tuyên theo quy định của pháp luật.

- Người bào chữa cho bị cáo Trịnh Văn K trình bày quan điểm: Về tội danh, tình tiết định khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS nhất trí quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân. Đề nghị HĐXX xem xét đồng phạm giữ vai trò thứ yếu, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Văn K 15 tháng tù.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đã trình bày.

- Các bị cáo không tranh luận với Kiểm sát viên và nói lời sau cùng: Các bị cáo đều đã nhận thức được rõ hành vi phạm tội của mình và ăn năn hối cải, đều đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, xử phạt với mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:

Cơ quan CSĐT - Công an huyện L, Điều tra viên, VKSND huyện Lạc Thuỷ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với các quy định của pháp luật.

[2] Về tội danh và hình phạt:

Tại phiên toà các bị cáo Nguyễn Hồng Q, Trịnh Văn K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên và Cáo trạng. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ căn cứ kết luận: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 25/6/2024, Nguyễn Hồng Q điều khiển xe mô tô BKS 29Y7-020.49 chở Trịnh Văn K từ huyện L, tỉnh Hòa Bình đến khu vực thị trấn V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội mua ma túy với số tiền 3.500.000 đồng để cả hai cùng sử dụng. Sau khi mua được ma túy, Nguyễn Hồng Q chở K về huyện L, đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 25/6/2024 khi Q đi đến thôn Đ, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình thì Công an huyện L phát hiện bắt quả tang đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy gồm: Heroine có khối lượng 1,95 gam (Một phẩy chín mươi lăm gam) và A1 có khối lượng 0,1g (Không phẩy một gam), tổng khối lượng hai chất ma túy là 2,05g (Hai phẩy không năm gam) mục đích để sử dụng cho bản thân.

Methamphetamine nằm trong danh mục IIC, số thứ tự: 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Heroine (H) nằm trong danh mục IA, số thứ tự: 09, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Các bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Với tình tiết vụ án và hành vi khách quan như trên, VKSND huyện Lạc Thủy truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo trong vụ án:

Về nhân thân: Bị cáo K chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Q đã bị kết án về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tuy đã được xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Đối với Trịnh Văn K đã ra đầu thú, có bố đẻ là ông Trịnh Minh T được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba; bị cáo Q có bà nội là Nguyễn Thị T3 là bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Do vậy, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS.

[4] Xét về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội.

Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, hủy hoại sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác.

Trong vụ án này Hội đồng xét xử đánh giá đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Để áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của từng bị cáo Hội đồng xét xử phân hóa vai trò của các bị cáo như sau:

Nguyễn Hồng Q là người khởi xướng, chuẩn bị tiền, phương tiện và rủ Trịnh Văn K đi mua ma túy để cả hai cùng sử dụng nên giữ vai trò chính. Trịnh Văn K là người được Q rủ cùng đi mua ma túy, trực tiếp cầm tiền mua ma túy nên có vai trò giúp sức cho Q thực hiện hành vi phạm tội.

Từ các căn cứ trên, HĐXX xét thấy các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội nghiêm trọng với lỗi cố ý trực tiếp, bản thân lại là người sử dụng ma túy. Do vậy cần xét xử nghiêm, cách ly các bị cáo một thời gian để có tác dụng cải tạo giáo dục riêng đối với các bị cáo, đồng thời để các bị cáo cai nghiệm ma túy và phòng ngừa chung.

Tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo cho việc chấp hành án.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng các bị cáo là người sử dụng ma túy, không có tài sản, thu nhập ổn định, bị cáo K thuộc gia đình cận nghèo, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường về dân sự nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với mẫu ma túy hoàn lại sau giám định đã được niêm phong. Xét đây là vật chứng của vụ án bị cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda AIRBLADE màu ghi BKS:29Y7-020.49, xe cũ đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng và chưa xác định được chủ sở hữu nên HĐXX xét thấy cần giao cho Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình tiếp tục xác minh và xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.

[8] Về các nội dung khác:

Đối với người đàn ông bán ma túy cho K, K khai không biết lai lịch của người này. CQĐT Công an huyện L tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Quyền kháng cáo được tuyên theo quy định tại điều 331 Bộ luật TTHS.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:
    • - Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hồng Q, Trịnh Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    • - Về hình phạt: Căn cứ: Điểm i khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 17; Điều 58; điều 38 BLHS.
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Q 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/6/2024.
    • Xử phạt bị cáo Trịnh Văn K 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/6/2024.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật TTHS, tuyên:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong có dấu niêm phong của Phòng K1 - Công an tỉnh H và chữ ký của thành phần tham gia niêm phong gồm 01 mẫu ma tuý loại Methamphetamine (A1:0,06g) và 06 mẫu ma tuý loại Heroine (A2:0,22g; A3:0,2g; A4: 0,21g; A5: 0,21g; A6: 0,2g; A7:0,2g), cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau giám định của Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1970, xảy ra ngày 25 tháng 6 năm 2024. Tại: xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
    • - Giao lại 01 xe mô tô nhãn hiệu AIRBLADE, BKS 29Y7-020.49, màu đen-bạc, xe cũ đã qua sử dụng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình quản lý để tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

      (Thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình)

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật TTHS; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Hoà Bình;
  • -VKSND huyện Lạc Thuỷ;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hòa Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Lạc Thuỷ;
  • - Công an huyện Lạc Thuỷ;
  • - Bị cáo;
  • - UBND xã Phú Nghĩa;
  • - .................................................;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Vũ Hải Dương

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Bùi Hữu Thành

Vũ Xuân Hải

Vũ Hải Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Q+K Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger