Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. SÔNG CÔNG

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HS-ST

Ngày 22 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toản.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hải Nam và bà Phạm Thị Diệu Hạnh.

Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Minh – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Nam T (Tên gọi khác là Phạm Thế Nam T1) - Sinh ngày13/11/1978, tại thành phố T, tỉnh Thái Nguyên;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố E, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam, con ông: Phạm Thế Q (đã chết) và bà Đỗ Thị Q1 – Sinh năm: 1938; có vợ là Nguyễn Thị Nga A - Sinh năm 1983 (đã ly hôn) và 01 con nhỏ sinh năm 2012.

- Tiền án: Có 01 tiền án: Bản án số 264/2020/HSST ngày 25/6/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt bị cáo Phạm Nam T1 42 tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 21/8/2023 chấp hành xong hình phạt.

- Tiền sự: Không có.

- Nhân thân:

  • + Ngày 05/12/1997 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù giam về tội: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
  • + Ngày 27/10/2000 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 27 tháng tù về tội: Cưỡng đoạt tài sản và tội Trộm cắp tài sản.
  • + Ngày 12/02/2004 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 15 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản.
  • + Ngày 03/11/2007 Chủ tịch UBND tỉnh T Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng về hành vi: Trộm cắp tài sản.
  • + Ngày 28/5/2014 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 09 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản.
  • + Ngày 29/10/2014 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 09 tháng tù tội: Trộm cắp tài sản.
  • + Ngày 27/6/2016 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử 24 tháng tù giam về tội: Trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

- Người chứng kiến:

(Có mặt tại phiên tòa)

  1. Ông Mai Văn D - Sinh năm 1986;
  2. Nơi cư trú: Xóm T, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên;

  3. Ông Đàm Đức G - Sinh năm 1983;
  4. Nơi cư trú: Xóm T, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên;

(Đều vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 24/01/2024, Tổ công tác Công an xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát, đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực xóm T, xã B, T P đi vào khu vực hiệu thuốc gần đó, thấy có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra thì T1 đã tự nguyện cầm 01 gói ma túy được gói bằng giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng đục ở trong lòng bàn tay trái ra giao nộp, T1 khai nhận là ma túy loại Heroinne, mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng nêu trên và chuyển hồ sơ vụ án đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S để giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan điều tra Công an thành phố S tiến hành trưng cầu giám định số chất bột màu trắng thu giữ của Phạm Nam T1. Tại bản kết luận giám định số 309 ngày 02/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định trong bì ký hiệu A1 là chất ma túy loại Heroinne có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,077 gam (không phẩy không bảy bảy gam).

Quá trình điều tra bị cáo Phạm Nam T1 khai nhận: Bản thân T1 nghiện chất ma túy từ năm 1994, hình thức sử dụng là chích, loại ma túy thường sử dụng là Heroine. Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 24/01/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, T1 đi đến khu vực ngã ba phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma túy, đến khu vực trên T1 gặp một người đàn ông (không biết tên tuổi, địa chỉ), T1 hỏi mua ma tuý thì được người đó bán cho 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T1 đi đến xóm T, xã B, thành phố S thì bị Công an xã B phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có 0,062 gam mẫu ma túy còn lại sau giám định và bao gói mẫu được chuyển bảo quản theo quy định về quản lý vật chứng.

Tại bản Cáo trạng số 41/CT -VKS-SC ngày 26/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Phạm Nam T1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Phạm Nam T1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Nam T1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo từ 18 – 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng điều 47 của BLHS và Điều 106 của BLTTHS tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu A2, chứa vỏ bì ký hiệu A và gói giấy màu trắng và 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có 0,062 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; về án phí: Buộc bị cáo Phạm Nam T1 phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình và thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo Phạm Nam T1 có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Nam T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến sự việc đúng như nội dung Kết luận điều tra và Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận:

Bị cáo Phạm Nam T1 là đối tượng nghiện chất ma túy từ năm 1994 cho đến nay chưa từ bỏ được, nên bị cáo thường xuyên đi mua ma túy về sử dụng. Khoảng 16 giờ 00 ngày 24/01/2024, bị cáo đi đến khu vực ngã ba phường T, thành phố T gặp và mua của 01 người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng. Sau đó, bị cáo cầm gói ma túy ở lòng bàn tay trái và đi tìm nơi để sử dụng, khi đến khu vực xóm T, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên thì bị Tổ công tác Công an xã B phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng là 01 gói ma túy vừa mua nêu trên, qua giám định là Heroine có khối lượng là 0,077 gam. Xét thấy, bị cáo đã có tiền án về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích theo quy định, do đó, hành vi mua ma túy (Loại Heroine) có khối lượng nêu trên với mục đích để sử dụng cho bản thân của bị cáo Phạm Nam T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của BLHS. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công truy tố bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật

Nội dung Điều 249 của BLHS quy định:

  1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
    • Đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251, 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ của tội phạm là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, hành vi phạm tội của bị cáo còn tiếp tay cho những kẻ buôn bán trái phép chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của BLHS.

Xét nhân thân, thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy đã nhiều năm, đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính và xử phạt tù nhiều lần về các tội phạm khác nhau, nhưng lại không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho bản thân mà lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội, điều đó thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu và coi thường pháp luật. Do đó, dù có giảm nhẹ phần nào về hình phạt, cũng cần nên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian phù hợp để cho bị cáo có điều kiện cai nghiện ma túy cũng như cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS thì người phạm tội còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy bị cáo là người nghiện ma tuý, phạm tội không nhằm mục đích thu lời bất chính. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của BLHS và Điều 106 BLTTHS, xử lý vật chứng vụ án như sau: Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định, vỏ bao gói mẫu, gói giấy... xét thấy đây là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo, như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính, xử lý vật chứng vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.

[7] Cần áp dụng Điều 329 của BLTTHS ra quyết định tạm giam bị cáo với thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định.

[8]Về nguồn gốc số ma túy đã bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người bán ma túy ở khu vực ngã ba phường T, thành phố T, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S không có căn cứ để xác minh, làm rõ.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu một khoản án phí HSST nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điều 47, điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của BLHS đối với Phạm Nam T1;
  • - Điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, các Điều 329, 331 và 333 của BLTTHS;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Nam T1 (Tên gọi khác là Phạm Thế Nam T1) phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Phạm Nam T1 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 24/01/2024.
  3. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định khoản 5 Điều 249 của BLHS.
  4. Ra Quyết định tạm giam bị cáo Phạm Nam T1 với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  5. Về xử lý vật chứng:
    • Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau đây: 01(Một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có chứa 0,062 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 (Một) bì niêm phong ký hiệu A2, chứa vỏ bì ký hiệu A và gói giấy màu trắng.

    (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/5/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên).

  6. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Nam T1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST nộp vào ngân sách Nhà nước.
  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Nam T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Thái nguyên;
  • - VKSND TP. Sông Công;
  • - THADS TP. Sông Công;
  • - Công an TP. Sông Công;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Toản

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trung- tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger