Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN ND Q.SƠN TRÀ

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Bản án số: 41/2024/HSST

Ngày 22.4.2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP ĐÀ NẴNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:- Ông Hà Đồng Tịnh, Hội cựu chiến binh quận Sơn Trà

- Ông Nguyễn Văn Đích, Cán bộ hưu trí

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Trà - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Sơn Trà TP Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 22.4.2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 36/2024/HSST ngày 02.4.2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/HSST-QĐ ngày 11.4.2024 đối với bị cáo:

Lê Công T ; Sinh ngày: 22.8.2009(Tính đến thời điểm phạm tội bị cáo: 14 tuổi 01 tháng 24 ngày).

Nơi ĐKNKTT: tổ B, phường T, quận T, TP Đà Nẵng.

Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 7/12;

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Lê Công T1 (1988) và bà Lê Thị Bích H (1992); Bị cáo là con thứ 1 trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: chưa

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 07.11.2023 hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an quận S. Có mặt.

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Lê Công T có bà Lê Thị Bích H, sinh năm 1992(mẹ ruột). Địa chỉ: H đường M, tổ B, phường T, quận T, TP .. Có mặt

*Người bào chữa theo chỉ định cho bị cáo Lê Công T có luật sư Nguyễn Huy V, thuộc Công ty L2 Địa chỉ: số C K, quận T, TP Đà Nẵng. Có mặt

*Bị hại:

  1. Lê Văn V1, sinh ngày 29.10.2006. Trú tại: tổ I, phường N, quận S, TP Đà Nẵng (SĐT: 0708.063.xxx). Người đại diện hợp pháp cho Lê Văn V1 có ông Lê Văn T2, sinh năm 1976 (cha ruột). Có mặt
  2. Lê Thị P, sinh năm 1999. Trú tại: số E N, phường N, quận S, TP Đà Nẵng. SĐT: 0792.129.xxx. Có mặt

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Phạm Thị Xuân D, sinh ngày 21.02.2008. Người đại diện hợp pháp cho Phạm Thị Xuân D có ông Phạm Phú T3, sinh năm 1970 (cha ruột), Cùng trú tại: K T, phường H, quận T, TP Đà Nẵng. SĐT: 0934.759.xxx, Vắng mặt
  2. Trần Văn L, sinh ngày 07.3.2008. Người đại diện hợp pháp cho Trần Văn L có bà Trần Thị Y, sinh năm 1972 (mẹ ruột), Cùng trú tại: tổ A, phường T, quận T, TP Đà Nẵng. Vắng mặt
  3. Nguyễn Quang T4, sinh ngày 03.7.2008. Người đại diện hợp pháp cho Nguyễn Quang T4 có ông Nguyễn Quang P1, sinh năm 1974 (cha ruột) và bà Cao Thị Thùy T5, sinh năm 1978 (mẹ ruột), Cùng trú tại: số A N, phường H, quận L, TP Đà Nẵng. SĐT: 0774.524.xxx, Vắng mặt
  4. Ông Lê Công T1, sinh năm 1988. Trú tại: H Mẹ N, tổ B, phường T, quận T, TP ..(Cha bị cáo), Vắng mặt
  5. Lê Thị Bích H, sinh năm 1992. Trú tại: H Mẹ N, tổ B, phường T, quận T, TP .. SĐT: 0774.944.xxx, có mặt
  6. Ông Nguễn Xuân T6, sinh năm 1973. Trú tại: số H L, phường T, quận T, TP Đà Nẵng. SĐT: 0913.499.xxx, Vắng mặt
  7. Ông Nguyễn Công Đ, sinh năm 1999. Trú tại: P, phường N, quận S, TP Đà Nẵng. SĐT: 0788.554.xxx, Có mặt
  8. Nguyễn Thị T7, sinh năm 1970. Trú tại: tổ A, phường X, quận T, TP Đà Nẵng. SĐT: 0905.396.xxx, Vắng mặt
  9. Ông Lê Khắc Thành C, sinh năm 2002, T8 tại: số B N, phường X, TP H.SĐT: 0855.361.xxx, Vắng mặt
  10. Ông Lê Cao C1, sinh năm 1974, T8 tại: tổ A, phường H, quận T, TP Đà Nẵng. Vắng mặt

* Đại diện UBND phường T, quận T, TP Đà Nẵng (nơi bị cáo Lê Công T đang cư trú ), Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 16.10.2023, do không có tiền tiêu xài cá nhân nên đối tượng tên B rủ Lê Công T qua quận S để trộm cắp tài sản thì T đồng ý. Cả hai bắt xe G đi từ Nhà nghỉ I (phường H, quận L, TP Đà Nẵng) đến khu chung cư gần cầu T, phường N, quận S, TP Đà Nẵng, tìm nhà dân có sơ hở để trộm cắp tài sản. T và B đi bộ đến trước nhà số E N, phường N thì phát hiện có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, màu trắng - đen, BKS: 43D1-822.46 của anh Lê Văn V1 (Sinh ngày: 29/10/2006; Trú: Tổ I, phường N, quận S, TP Đà Nẵng) đang dựng trong sân nhà. Do cửa không khóa nên T và B đi vào sân thấy chìa khóa xe còn đang cắm sẵn trên xe, B nói T đứng ở sân để cảnh giới, còn B mở cửa chính đi vào trong nhà tìm kiếm tài sản để trộm cắp. B đi vào nhà, rồi đi lên tầng hai vào phòng ngủ của chị Lê Thị P (SN 1999; Trú: Số E N, phường N, quận S, TP Đà Nẵng). Lợi dụng lúc chị P ngủ say, B lấy 01 túi xách, màu nâu, kích thước khoảng (30x20)cm, bên trong túi có 04 cọc tiền, mệnh giá 500.000 đồng và một số tờ tiền các loại mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng, 100.000 đồng (Tổng số tiền 214.000.000 đồng) rồi đi xuống tầng một gặp T. Sau đó, T và B dắt xe mô tô hiệu Honda Vario, màu trắng - đen, BKS: 43D1-822.46 của anh Lê Văn V1 ra ngoài, nổ máy chạy về Nhà nghỉ 999 để lấy đồ dùng cá nhân và trả phòng, rồi cùng nhau điều khiển xe vừa trộm cắp được chạy đi ra Huế. Trên đường đi đến đèo H, B dừng xe lại tháo và vứt biển số 43D1-882.46 và T lấy biển số 73H1-45571 thay vào xe mô tô hiệu Honda Vario, rồi tiếp tục đi đến gần thành phố H thì cả hai thuê nhà nghỉ. Tại đây, B lấy tiền ra đếm, T hỏi bao nhiêu tiền thì B nói khoảng hơn 200.000.000 đồng. Sau đó, B chia số tiền trộm cắp được thành hai phần rồi đưa cho T một phần, B giữ một phần (cả hai đều không đếm số tiền này). Đến sáng hôm sau, B đi về Hải Phòng còn T sử dụng xe mô tô hiệu Honda Vario, màu trắng – đen trộm được quay về TP Đà Nẵng. Khi về T có kiểm đếm số tiền Bờm đưa thì được 125.000.000 đồng. Khi về lại Đà Nẵng, T có gặp Phạm Thị Xuân D (Sinh ngày 21.02.2008; Trú: Tổ F, phường H, quận T, TP Đà Nẵng - Là bạn gái của T) và T có kể cho D nghe việc T trộm cắp được tài sản rồi T đưa toàn bộ số tiền trộm cắp được cho D cất giữ giúp. Sau đó, T đã lấy lại số tiền này rồi rủ Trần Văn L (Sinh ngày: 07.03.2008; Trú: Tổ A, phường T, quận T, TP Đà Nẵng) và Nguyễn Quang T4 (Sinh ngày 03.7.2008; Trú: Tổ B, phường H, quận H, TP Đà Nẵng) vào TP T, tỉnh Quảng Nam chơi. Khi vào TP T và thuê nhà nghỉ ở, T có đem cộc tiền được B chia ra khoe với LT4 và nói đây là tiền T và B trộm cắp được. Toàn bộ số tiền trộm cắp được, T đã sử dụng như sau: Đưa cho ông Lê Công T1 (Sinh năm: 1988; Trú: H Mẹ N, phường T, quận T, TP Đà Nẵng - Là cha ruột của T) 4.000.000 đồng và nói là tiền của bạn T nhờ T cất giúp; mua 01 nhẫn kim loại, màu vàng, với giá 2.800.000 đồng tặng cho bà Lê Thị Bích H (Sinh năm: 1992; Trú: H61/33/38-K60 Mẹ N, tổ B, phường T, quận T, TP Đà Nẵng - là mẹ ruột của T) nhân ngày 20.10 và đưa cho bà H số tiền 6.000.000 đồng nói là tiền của bạn T nhờ T cất giúp; T tự mình mua đồ cá nhân cho em gái hết 1.000.000 đồng; T mua cho Phạm Thị Xuân D 01 điện thoại hiệu Iphone 11, màu đen, với giá 10.000.000 đồng và 01 sợi dây chuyền kim loại màu bạc, trị giá 800.000 đồng; T cho L, T4H1 (Không rõ lai lịch) mỗi người 5.000.000 đồng; T mua cho L 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu trắng, với giá 7.600.000 đồng và đưa xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, màu trắng - đen, có gắn BKS: 73H1-455.71 đã trộm cắp trước đó cho L sử dụng, đồng thời cho L thêm 10.000.000 đồng để sửa chữa, thêm phụ kiện cho xe này; T mua 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu đỏ, BKS: 43D1-492.91 tại hộ kinh doanh Nguyễn Xuân T9 do anh Nguyễn Xuân T9 (SN 1973; T L, phường T) làm chủ với số tiền 25.000.000 đồng để sử dụng và gắn thêm nhiều phụ kiện lên xe mô tô này hết 13.000.000 đồng, mua 03 chiếc điện thoại, gồm: 01 điện thoại hiệu Iphone XS Max, màu đen, với giá 7.600.000 đồng, 01 điện thoại hiệu Iphone 11, với giá 10.000.000 đồng, 01 điện thoại hiệu Iphone X, màu đen, với giá 3.900.000 đồng. Số tiền còn lại T tiêu xài hết. Đồng thời, sau khi tiêu xài hết số tiền còn lại, T đã mang 01 điện thoại hiệu Iphone XS Max, màu đen và 01 điện thoại hiệu Iphone 11 đi bán để lấy tiền tiếp tục tiêu xài.

* Tang vật thu giữ: 01 nhẫn bằng kim loại, màu vàng (Thu giữ từ bà Lê Thị Bích H); 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu đỏ, số máy JF6E1016515, số khung: 6301FZ2016505, BKS: 43D1-492.91; 01 điện thoại hiệu Iphone X, màu đen, số Imei: 356738084733778 (Thu giữ từ Lê Công T); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu bạc (Thu giữ từ Phạm Thị Xuân D); 01 xe máy hiệu Honda Vario, màu đen, gắn BKS: 73H1-455.71; 01 ống pô bằng kim loại, có dòng chữ “4 Road”, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.

Tại Kết luận số: 87 ngày 28/11/2023 của Hội đồng định giá trong TTHS quận S xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, màu trắng - đen, BKS: 43D1-822.46 có giá trị 27.000.000 đồng. Đối với túi xách và ví tiền của chị Lê Thị P, do mua đã lâu, không còn giá trị nên Cơ quan điều tra không tiến hành định giá.

Về bồi thường dân sự: Anh Lê Văn V1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Chị Lê Thị P yêu cầu bồi thường số tiền 214.000.000 đồng.

Đối với ông Lê Công T1, sau khi nhận số tiền 4.000.000 đồng do T nhờ cất giúp, ông T1 đã tiêu xài số tiền này.

Đối với bà Lê Thị Bích H, sau khi nhận 01 nhẫn bằng kim loại, màu vàng do T tặng và số tiền 6.000.000 đồng do T nhờ cất giúp, bà H đã tiêu xài hết số tiền này còn nhẫn vàng thì bà H giao nộp cho cơ quan công an.

Đối với Trần Văn L, số tiền 5.000.000 đồng mà T cho L đã tiêu xài hết; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, màu trắng - đen, có gắn BKS: 73H1-455.71 Trí đưa cho L sử dụng, L đã cho một người bạn tên K (không rõ lai lịch) mượn đi và không trả lại cho L, sau đó Cơ quan Công an đã thu giữ được xe này tại vỉa hè trước nhà số A N, phường M; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu trắng mà T mua cho L sử dụng sau đó L đã bán điện thoại này với giá 3.000.000 đồng rồi lấy tiền tiêu xài cá nhân hết. Qua điều tra xác định biển số xe 73H1-455.71 được gắn trên xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen do anh Nguyễn Văn L1 (SN 1997; Trú: Thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Quảng Bình) đứng tên chủ sở hữu, xe này anh L1 sử dụng và bị mất trộm vào ngày 17.8.2023 tại địa chỉ số I L, phường H, quận C. Đối với thông tin tội phạm nêu trên, Cơ quan CSĐT Công an quận S đã ban hành công văn số: 364/ĐCSHS ngày 06.3.2024 chuyển cho Cơ quan CSĐT Công an quận C thụ lý điều tra theo thẩm quyền.

Đối với Nguyễn Quang T4, số tiền 5.000.000 đồng mà T cho T4 đã tiêu xài hết.

Đối với Phạm Thị Xuân D, điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu bạc mà T mua cho D đã giao nộp cho Cơ quan Công an.

Đối với đối tượng tên Bờm, qua điều tra, nghi vấn đối tượng này có tên thật là Trần Đại N (Sinh ngày 10.8.2007; HKTT: Tổ 06 khu A, phường T, TP H, tỉnh Quảng Ninh), Cơ quan CSĐT Công an quận S đã có Quyết định uỷ thác số: 363/ĐCSHS ngày 06.3.2024 để uỷ thác cho Cơ quan CSĐT Công an T11, tỉnh Quảng Ninh tiến hành xác minh, lấy lời khai nhưng đến nay chưa có kết quả tra lời.

Tại Bản cáo trạng số 38/CT-VKSST ngày 02.4.2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Lê Công T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 BLHS. Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 101 BLHS, xử phạt bị cáo từ 4 năm đến 4 năm 6 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 BLHS, Điều 589 BLDS: Do bị cáo là người dưới 18 tuổi, không có tài sản riêng nên đề nghị T10 buộc ông Lê Công T1 và bà Lê Thị Bích H là cha mẹ bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho bà Lê Phị P2 số tiền 214.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Quy trữ toàn bộ tài sản đã thu giữ để đảm bảo việc thi hành án để chi trả cho người bị hại là Lê Thị P, cụ thể: 01 nhẫn bằng kim loại, màu vàng không kiểm tra chất lượng đã được cơ quan CSĐT công an quận S niêm phong (có biên bản niêm phong kèm theo); 01 điện thoại hiệu Iphone X, màu đen, số Imei 356738084733778 đã qua sử dụng. không kiểm tra chất lượng, bể mặt sau; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu đen, số Imei 356565109587628 đã qua sử dụng. không kiểm tra chất lượng; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu bạc. không kiểm tra chất lượng đã được cơ quan CSĐT công an quận S niêm phong (có biên bản niêm phong kèm theo); 01 mô tô hiệu Honda Airblade, màu đỏ, số máy JF6E1016515, số khung 6301FZ2016505; BKS: 43D1-492.91 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, không có chìa khóa xe; 01 ống pô bằng kim loại, có dòng chữ “4 Road”, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Công T là luật sư Nguyễn Huy V thống nhất với cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Đề nghị áp dụng nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội do bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế; xem xét hoàn cảnh gia đình; động cơ, mục đích phạm tội, nên đề nghị giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

Bị cáo Lê Công T, đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Công T là bà Lê Thị Bích H thống nhất với lời bào chữa của luật sư và không có ý kiến bổ sung.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo cho rằng cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 BLHS là đúng người, đúng tội. Bị cáo đã thấy được lỗi lầm, ăn năn hối cải, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Vào rạng sáng ngày 17.10.2023, do không có tiền tiêu xài nên Lê Công T được một đối tượng tên Bờm rủ đi trộm cắp tài sản, Lê Công T và B đi đến số nhà E N, phường N, quận S thấy cửa không khóa nên B nói Lê Công T đứng ngoài sân cảnh giới, còn B lén lút lên tầng 2 vào phòng ngủ trộm 01 túi xách màu nâu của chị Lê Thị P bên trong có 04 cọc tiền, mệnh giá 500.000 đồng và một số tờ tiền các loại mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng, 100.000 đồng (Tổng số tiền 214.000.000 đồng), sau đó B và Lê Công T lấy xe mô tô hiệu Honda Vario, màu trắng - đen, BKS: 43D1-822.46 trị giá 27.000.000 đồng của anh Lê Văn V1. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 241.000.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “ Trộm cắp tài sản” được quy định tại Điều 173 BLHS. Tài sản bị cáo trộm cắp có trị giá 241.000.000 đồng. Nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung “chiếm đoạt tài sản có trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 BLHS. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự liều lĩnh và coi thường pháp luật đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Do vậy cần phải xử phạt nghiêm.

[4] Tuy nhiên xét thấy quá trình điều tra, truy tố và tại phiên hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để xem xét mức hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Ngoài ra, bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên HĐXX áp dụng nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Điều 90, Điều 91 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

  • -Anh Lê Văn V1 đã nhận lại tài sản là xe mô tô hiệu Honda Vario, màu trắng – đen giá trị 27.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên khong xem xét.
  • -Chị Lê Thị P yêu cầu bồi thường số tiền 214.000.000 đồng. HĐXX xét thấy: Bị cáo khi phạm tội là người chưa thành niên. Do vậy buộc cha mẹ bị cáo là ông ông Lê Công T1 và bà Lê Thị Bích H phải có nghĩa vụ bồi thường cho người bị hại bà Lê Thị P số tiền là 214.000.000 đồng là có căn cứ.

[6] Xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ những tang vật như sau:

  • - Thu của bà Lê Thị Bích H: 01 nhẫn bằng kim loại, màu vàng do bị cáo tặng.
  • -Thu của Phạm Thị Xuân D: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu đen và 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu bạc do bị cáo mua tặng
  • -Thu của bị cáo 01 mô tô hiệu Honda Airblade, màu đỏ, BKS: 43D1-492.91 và 01 điện thoại hiệu Iphone X, màu đen.
  • -Thu giữu của Trần Văn L 01 ống pô bằng kim loại, có dòng chữ “4 Road”, đã qua sử dụng.

Đây tài sản này có được do bị cáo dùng tiền trộm cắp mua nên cần Quy trữ để đảm bảo việc thi hành án để chi trả cho người bị hại là Lê Thị P.

[7]Trong vụ án có: Đối với đối tượng B (nghi vấn tên là Trần Đại N), do hiện chưa có kết quả trả lời từ Cơ quan CSĐT Công an T11, tỉnh Quảng Ninh nên Cơ quan CSĐT Công an quận S tách ra tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau là phù hợp.

-Đối với hành vi tiêu thụ, chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có và không tố giác tội phạm của Trần Văn L, Nguyễn Quang T4, Phạm Thị Xuân D, do tại thời điểm thực hiện hành vi, L mới chỉ được 15 tuổi 7 tháng 10 ngày, T4 được 15 tuổi 3 tháng 14 ngày, D được 15 tuổi 7 tháng 26 ngày, do đó, căn cứ khoản 2 Điều 12 BLHS, L, T4, D chưa đủ tuổi chịu TNHS, CQCA quận S ra Quyết định xử lý hành chính đối với L, T4, D là có cơ sở.

-Đối với ông Lê Công T1 và bà Lê Thị Bích H, do không biết tiền Lê Công T đưa cất giữ là tiền do trộm cắp mà có nên Cơ quan Cơ quan CSĐT Công an quận S không đề cập xử lý là phù hợp.

-Đối với đối tượng tên H1, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an quận S tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là có căn cứ.

[8] Về án phí: Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án thì Án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) buộc bị cáo phải chịu.

  • - Án phí dân sự sơ thẩm ông Lê Công T1 phải chịu là 5.350.000 đồng
  • - Án phí dân sự sơ thẩm bà Lê Thị Bích H phải chịu là 5.350.000 đồng. Bà Lê Thị Bích H thuộc hộ nghèo nên được miễn tiền án phí sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Công T phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  2. - Căn cứ: điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 101 BLHS BLHS;

    Xử phạt: Lê Công T 04 năm 06 tháng (bốn năm sáu tháng ) tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07.11.2023.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 BLHS, Điều 589 BLDS
  4. Tuyên buộc ông Lê Công T1 và bà Lê Thị Bích H là cha mẹ bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho bà Lê Phị P2 số tiền 214.000.000 đồng ( Hai trăm mười bốn triệu đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực, Người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ bồi thường số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi, theo lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

  5. Về xử lý vậy chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tuyên: Quy quy trữ toàn bộ tài sản đã thu giữ để đảm bảo việc thi hành án để chi trả cho người bị hại là Lê Thị P, cụ thể: 01 nhẫn bằng kim loại, màu vàng không kiểm tra chất lượng đã được cơ quan CSĐT công an quận S niêm phong (có biên bản niêm phong kèm theo); 01 điện thoại hiệu Iphone X, màu đen, số Imei 356738084733778 đã qua sử dụng. không kiểm tra chất lượng, bể mặt sau; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu đen, số Imei 356565109587628 đã qua sử dụng. không kiểm tra chất lượng; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu bạc. không kiểm tra chất lượng đã được cơ quan CSĐT công an quận S niêm phong (có biên bản niêm phong kèm theo); 01 mô tô hiệu Honda Airblade, màu đỏ, số máy JF6E1016515, số khung 6301FZ2016505; BKS: 43D1-492.91 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, không có chìa khóa xe; 01 ống pô bằng kim loại, có dòng chữ “4 Road”, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.
  6. (Toàn bộ vật chứng thể hiện tại biên bản bàn giao ngày 02.4.2024 Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà đang tạm giữ)

  7. Án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) bị cáo phải chịu.
  8. - Án phí dân sự sơ thẩm ông Lê Công T1 phải chịu là 5.350.000 đồng

    - Án phí dân sự sơ thẩm bà Lê Thị Bích H phải chịu là 5.350.000 đồng. Bà Lê Thị Bích H thuộc hộ nghèo nên được miễn tiền án phí sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

  9. Quyền kháng cáo: Bị cáo, những người có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;
  10. Riêng người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - VKSND quận Sơn Trà
  • - VKS ND TPĐN, TAND TPĐN
  • - Công an quận Sơn Trà
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng
  • - Trại giam Công an TPĐN
  • - Sở Tư pháp
  • - Lưu HS

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phạm Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HSST ngày 22/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 41/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Lê Công Tr bị truy tố về tội "Trộm cắp tài sán" theo quy định tại Khoản 3 Điều 173 BLHS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger