|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2024/HS-PT
Ngày: 21-5-2024
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bích Văn Nhiên.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành
Ông Nguyễn Lê Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 22/2024/TLPT-HS ngày 27 tháng 02 năm 2024, đối với bị cáo Nguyễn Thành C và 03 bị cáo khác, do có kháng cáo của các bị cáo, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 212/2023/HS-ST ngày 07 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
- Các Bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Thành C (Tên gọi khác: S), sinh năm 1996, tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện P, Bình Thuận; Nghề nghiệp: Lao động biển; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn H và bà Võ Thị T; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 19/5/2020, Tòa án nhấn dân huyện P xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 01/2020/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/11/2020; Bị bắt, tạm giữ ngày 04/3/2023 đến ngày 28/4/2023, áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”; hiện bị cáo tại ngoại; có mặt.
2. Trần Đình C1, sinh năm 1983, tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Xây dựng;Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Đình N (Chết) và bà Lê Thị H1 (Chết); Có vợ Nguyễn Thị T1 và 04 người con; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 30/9/2014, Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt
05 tháng tù về tội “Đánh bạc”, tại bản án số 87/2014/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/9/2015; Bị bắt, tạm giữ ngày 04/3/2023 đến ngày 28/4/2023, áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”; hiện bị cáo tại ngoại; có mặt.
3. Nguyễn Hữu H2, sinh năm 1971, tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Dạy lái xe; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thúc H3 (Chết) và bà Phạm Thị T2; Có vợ Thân Thị Kim L và 02 người con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị bắt, tạm giữ ngày 04/3/2023 đến ngày 13/3/2023, áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; hiện bị cáo tại ngoại; có mặt.
4. Nguyễn Quốc T3, sinh năm 1975, tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố L, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Giết mổ heo; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N1 và bà Huỳnh Thị Bích P; Có vợ tên Võ Thị Mỹ V và 03 người con; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 25/7/2021, Công an huyện H xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi: “Đánh bạc” tại Quyết định số 0120825. Ngày 02/8/2021 đã nộp phạt; Bị bắt, tạm giữ ngày 04/3/2023 đến ngày 28/4/2023, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”; hiện bị cáo tại ngoại; có mặt.
- Ngoài ra, còn có 03 bị cáo không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do Nguyễn Quốc K có quen biết với Nguyễn Hồng T4, K thường đến nhà xưởng của T4 chơi. Ngày 01/3/2023, K biết T4 có việc về quê tại huyện T, tỉnh Bình Thuận thì K tự ý dùng nhà xưởng của T4 để tổ chức đánh bạc nên K thuê Trần Đức P1 đến nhà xưởng, cùng K tổ chức cho các con bạc đánh bạc, K sẽ trả cho P1 từ 500.000 đồng đến 700.000 đồng khi sòng bài kết thúc thì P1 đồng ý. K có nhiệm vụ rủ các con bạc đến chơi, P1 có nhiệm vụ chuẩn bị công cụ, mua nước uống phục vụ cho việc đánh bạc và thu tiền xâu, rồi đưa lại tiền thu xâu cho K.
Khoảng 09 giờ ngày 03/3/2023, K gọi điện cho P1 đến để phục vụ việc đánh bạc; Phan bỏ ra số tiền 880.000 đồng mua nước uống, thuốc lá, bộ bài tây và chuẩn bị bàn ghế, trải sẵn 01 tấm mền xuống nền nhà. Đến 10 giờ 30 phút cùng ngày, K gọi điện rủ Nguyễn Thành C, Lê Văn T5, Nguyễn Hữu H2, Trần Đình C1, Nguyễn Quốc T3 đến Tầng B Lô C, cảng cá Phan Thiết của nhà xưởng chế biến hải sản Công ty TNHH C2 thuộc Khu phố G, phường
Đ, thành phố P để đánh bạc ăn tiền thì C, T5, H2, C1, T3 đồng ý đến. Do K có việc nên giao lại sòng bạc cho Phan trông c, để thu tiền xâu.
Nguyễn Thành C, Lê Văn T5, Nguyễn Hữu H2, Trần Đình C1, Nguyễn Quốc T3 cùng thống nhất với nhau là đánh bài kéo phé; mỗi người chơi phải bỏ tẩy ra sòng số tiền 10.000.000 đồng và ngồi theo thứ tự chiều kim đồng hồ gồm: C, T5, C1, H2, T3 để bắt đầu chơi, nếu trong ván người nào thắng trên 5.000.000 đồng thì bỏ ra 100.000 đồng và thắng trên 10.000.000 đồng thì bỏ ra 200.000 đồng vào 01 hộp giấy được Phan chuẩn b sẵn (gọi là tiền thu xâu) bên cạnh sòng bạc.
Hình thức chơi bài kéo phé ăn tiền là sử dụng bộ bài tây 52 lá, rồi bỏ các lá bài từ số 2 đến số G, chỉ lấy các lá bài từ số 8 đến A (xì) dùng để đánh bạc. Các con bạc tham gia chơi sẽ xóc (xáo trộn) phát lần lượt cho 05 người theo vòng, mỗi người chia 02 lá, lá đầu tiên được lật ngửa cho mọi người cùng thấy, lá thứ 2 thì úp. Người tố cược tiền đầu tiên là người có lá bài lật ngữa lớn nhất trong số người chơi, tố cược tiền thấp nhất là 100.000 đồng, tố cao nhất bằng số tiền bỏ tẩy ban đầu. Nếu thấy bài đẹp thì người chơi theo tố, tức là người chơi phải bỏ số tiền bằng số tiền người tố đầu tiên đã tố, bài xấu thì người chơi có quyền úp bỏ bài, ngừng chơi ván đó và sẽ mất số tiền đã tố trong ván đó. Tiếp đến những người tham gia tố sẽ rút tiếp 01 lá bài và lật ngữa lá bài trên, nếu lá bài trên của ai lớn thì người đó tiếp tục tố, cứ như vậy đến lượt thứ 5 là lượt cuối cùng, những người chơi lật bài lên, nếu bài ai lớn nhất sẽ thắng thì thắng được hết số tiền đã tố trong ván bạc, còn lại tất cả người tham gia ván bạc là người thua. Nếu thắng số tiền trên 5.000.000 đồng thì bỏ tiền xâu là 100.000 đồng, thắng trên 10.000.000 đồng thì bỏ tiền xâu là 200.000 đồng.
Người có lá bài lớn nhất theo thứ tự như sau:
- - Thùng phá sảnh (05 lá bài cùng chất và liền nhau, từ lá 10 đến lá A (xì));
- - Tứ Q (04 lá bài giống nhau và 01 lá bài khác);
- - Thùng (05 lá bài cùng chất, nhưng không liền nhau);
- - Sảnh (05 lá bài liền nhau từ lá 10 đến lá A (xì), nhưng không cùng chất);
- - Cù lũ (03 lá bài giống nhau và 02 lá bài giống nhau);
- - Sám chỉ (03 lá bài giống nhau và 02 lá bài còn lại khác nhau);
- - Hai đôi hay còn gọi là thú (02 lá bài giống nhau + 02 lá bài giống nhau + 01 lá bài khác nhau);
- - Một đôi (02 lá bài giống nhau và 03 lá bài còn lại khác nhau);
- - Không có đôi (05 lá bài không giống nhau và không liền nhau).
Đến 15 giờ 30 phút ngày 03/3/2023, khi Nguyễn Thành C, Lê Văn T5, Nguyễn Hữu H2, Trần Đình C1, Nguyễn Quốc T3 đang đánh bài dưới hình thức kéo phé thì Công an phường Đ, thành phố P bắt quả tang thu giữ trên chiếu bạc số tiền 69.600.000 đồng và 6.200.000 đồng tiền thu xâu (trong hộp giấy). Cơ quan Công an đã lập biên bản quả tang, đồng thời thu giữ các vật chứng sau:
- - Số tiền 69.600.000 đồng (tiền thu giữ trên chiếu bạc);
- - 01 hộp giấy bên trong chứa số tiền 6.200.000 đồng (tiền thu xâu);
- - 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng;
- - 01 hộp gỗ là dụng cụ để bốc các lá bài;
- - 01 cái mền vải bông;
- Thu giữ của Nguyễn Thành C số tiền 7.000.000 đồng. Công khai nhận mang theo 34.000.000 đồng, dùng 27.000.000 đồng để đánh bạc và thua hết số tiền trên.
Thu giữ của Lê Văn T5 số tiền 12.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A30s màu đen, số máy SM – A307GN/DS số seri RF8MC1RM37H, số IMEI 1: 358544105708312, IMEI 2: 358545105708319. T5 khai nhận khi chơi đánh bạc mang theo 22.000.000 đồng, dùng 10.000.000 đồng để đánh bạc (không nhớ số tiền thắng thua).
Thu giữ của Trần Đình C1 số tiền 450.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12Pro Max màu xám, số seri F2LFCDLC0D24, số IMEI 1: 354741668040216, MEID: 35474166804021, số MIEI 2: 354741668008874; 01 điện thoại OPPO Reno2 màu xanh tím, số MIEI 86977804463771, số MIEI 2: 869778040463763. C1 mang theo số tiền 5.450.000 đồng, dùng để 5.000.000 đồng để đánh bạc (không nhớ số tiền thắng thua).
Thu giữ của Nguyễn Hữu H2 số tiền 23.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu S1 J7+ màu đen, số máy SM-C710F/DS, số seri R58K439FY4M, số MIEI 1: 352808093600831, số MIEI 2: 352809093600839. H2 mang theo số tiền 33.000.000 đồng, dùng 10.000.000 đồng để đánh bạc (không nhớ số tiền thắng thua).
Thu giữ của Nguyễn Quốc T3 số tiền 43.500.000 đồng (Đây là tiền vợ Võ Thị V đưa T3 để tra tiền mua heo, là tài sản chung của vợ chồng, T3 không dùng vào mục đích đánh bạc); 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A92 màu đen, số máy SM-A920F/DS07, số IMEI: 359933/09/317983/5. T3 mang theo số tiền 53.500.000 đồng, dùng 10.000.000 đồng để đánh bạc (không nhớ số tiền thắng thua).
Thu giữ của Trần Đức P1 số tiền 6.200.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu VSMART màu tím.
Thu giữ của Trần Bá V1 số tiền 15.000.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu VIVO 1916, màu xanh đen, số IMEI1: 865966048939413, số IMEI 2: 865966048939405.
Thu giữ của Nguyễn Thành M số tiền 10.000.000 đồng.
Như vậy, số tiền dùng để đánh bạc là 69.600.000 đồng. Tổng số tiền thu trên chiếu bạc dùng vào mục đích tổ chức đánh bạc là 69.600.000 đồng tiền đánh bạc + 6.200.000 đồng tiền thu xâu = 75.800.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 212/2023/HS-ST ngày 07 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Trần Đình C1 và bị cáo Nguyễn Quốc T3 áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: các Bị cáo Nguyễn Thành C, bị cáo Trần Đình C1, bị cáo Nguyễn Hữu H2 và bị cáo Nguyễn Quốc T3 phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành C 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù.
Xử phạt: Bị cáo Trần Đình C1 03 (ba) năm tù.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc T3 03 (ba) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tình từ ngày các bị cáo đi thi hành án, nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ trước từ ngày 04/3/2023, đến ngày 28/4/2023.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu H2 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tình từ ngày các bị cáo đi thi hành án, nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ trước từ ngày 04/3/2023, đến ngày 13/3/2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử phạt các bị cáo Nguyễn Quốc K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù và Trần Đức P1 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, về tội “Tổ chức đánh bạc”; bị cáo Lê Văn T5 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, về tội “Đánh bạc”; biện pháp tự pháp; xử lí vật chứng; tiền án phí và thông báo quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Ngày 15/11/2023, bị cáo Nguyễn Thành C, Trần Đình C1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Ngày 13/11/2023, bị cáo Nguyễn Hữu H2 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Ngày 10/11/2023, bị cáo Nguyễn Quốc T3 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Bình Thuận phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng
cáo của bị cáo Nguyễn Thành C và bị cáo Trần Đình C1; Áp dụng điểm b khoản 1 điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu H2 và bị cáo Nguyễn Quốc T3. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên phạt nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật.
- Các bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thành C, Trần Đình C1, Nguyễn Hữu H2, Nguyễn Quốc T3 làm trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.
[2] Về hành vi của các bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Thành C, Trần Đình C1, Nguyễn Hữu H2, Nguyễn Quốc T3 khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 03/03/2023, tại tầng 2 lô 3, cảng cá P của nhà xưởng chế biến hải sản Công ty TNHH C2 thuộc khu phố G, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Nguyễn Quốc K thuê Trần Đức P1 giúp sức cung cấp các bộ bài tây và trải sẵn mền, phục vụ nước uống để cho Nguyễn Thành C, Lê Văn T5, Trần Đình C1, Nguyễn Hữu H2, Nguyễn Quốc T3 đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài kéo phé nhằm mục đích để thu tiền xâu thì bị phát hiện bắt quả tang thu giữ số tiền 69.600.000 đồng dùng để đánh bạc và số tiền 6.200.000 đồng tiền thu xâu tại chiếu bạc.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thành C, Trần Đình C1, Nguyễn Hữu H2 và Nguyễn Quốc T3 đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” thuộc trường hợp “số tiền dùng vào việc đánh bạc có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt bị cáo Nguyễn Thành C 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù; Xử phạt các bị cáo Trần Đình C1, bị cáo Nguyễn Hữu H2 và bị cáo Nguyễn Quốc T3, mỗi bị cáo 03 (ba) năm tù là đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của các bị cáo Nguyễn Thành C, Trần Đình C1, Nguyễn Hữu H2 và Nguyễn Quốc T3, Hội đồng xét xử xét thấy như sau: Đối với bị cáo Nguyễn Thành C, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có cung cấp thêm tài liệu chứng cứ là đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhưng bị cáo đã có tiền án, mặc dù tới thời điểm phạm tội lần này đã được xóa án tích. Tuy nhiên, lần phạm tội này
là nghiêm trọng, đồng thời bị cáo chỉ có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là khai báo thành khẩn, quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên bị cáo không đủ điều kiện để giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Đối với bị cáo Trần Đình C1: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có cung cấp thêm tài liệu chứng cứ là đơn xin xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình nhưng bị cáo đã có tiền án về tội đánh bạc, mặc dù tới thời điểm phạm tội lần này đã được xóa án tích, tuy nhiên lần phạm tội này là nghiêm trọng nên bị cáo không đủ điều kiện để giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Đối với bị cáo Nguyễn Hữu H2: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm tài liệu là đơn xác nhận gia đình có công với cách mạng, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo. Bị cáo có nghề nghiệp ổn định và nơi cư trú rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Đối với bị cáo Nguyễn Quốc T3: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có cung cấp thêm tài liệu chứng cứ là đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, có anh trai và mẹ ruột là người có công với cách mạng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn, hối cải. Xét thấy bị cáo có nghề nghiệp ổn định, có nơi cư trú rõ ràng, do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận đề nghị bác kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành C và Trần Đình C1, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu H2 và Nguyễn Quốc T3 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thành C và bị cáo Trần Đình C1 phải nộp án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Nguyễn Hữu H2 và Nguyễn Quốc T3 không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thành C và bị cáo Trần Đình C1. Giữ nguyên mức hình phạt của bản án số 212/2023/HS-ST ngày 07 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu H2 và bị cáo Nguyễn Quốc T3. Sửa mức hình phạt của bản án số 212/2023/HS-ST ngày 07 tháng 11 năm
2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thành C, bị cáo Trần Đình C1, bị cáo Nguyễn Hữu H2 và bị cáo Nguyễn Quốc T3 phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành C 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tình từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 04/3/2023, đến ngày 28/4/2023.
Xử phạt: Bị cáo Trần Đình C1 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 04/3/2023, đến ngày 28/4/2023.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu H2 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 21/5/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Hữu H2 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T3 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 21/5/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Quốc T3 cho Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Bị cáo Nguyễn Thành C và bị cáo Trần Đình C1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Nguyễn Hữu H2 và bị cáo Nguyễn Quốc T3 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,
không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật tính kể từ ngày tuyên án (ngày 21 tháng 5 năm 2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Bích Văn Nhiên |
Bản án số 41/2024/HS-PT ngày 21/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về đánh bạc
- Số bản án: 41/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành C cùng đồng bọn phạm tội "Đánh bạc"
