|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 41/2025/HSST Ngày: 15/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG-TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Hải Âu
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1.Ông: Nguyễn Trọng Di
- 2. Bà: Nguyễn Thị Bích Lam
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Bích Vy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
Đại diện Viện kiểm sát huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thìn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 4 năm 2025 và ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 16/2025/HSST ngày 25 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2025; Theo quyết định tạm ngưng phiên tòa số 02/2025/QĐ-HSST ngày 09 tháng 4 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn C (tên gọi khác: M) giới tính: Nam; Sinh ngày 15/4/2001 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi thường trú và chỗ ở: thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 03/12; Con ông: Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1982 và bà Lê Thị H, sinh năm 1982; Anh, chị, em ruột: có 02 người; Vợ, con: chưa có.
Tiền án: 03 tiền án
- Tại Bản án số 24/2021/HS-ST ngày 23/4/2021 Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tuyên phạt Nguyễn C 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”;
- Tại Bản án số 72/2021/HS-ST ngày 06/5/2021 Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận tuyên phạt Nguyễn C 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”;
- Tại Bản án số 107/2021/HS-ST ngày 01/7/2021 Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận tuyên phạt Nguyễn C 18 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của 03 Bản án, buộc Nguyễn C phải chấp hành hình phạt chung là 03 năm 06 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/03/2024;
Tiền sự: không.
Nhân thân: Tại Bản án số 150/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận tuyên phạt Nguyễn C 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, hiện chưa chấp hành.
Bị cáo Nguyễn C bị bắt từ ngày 05/01/2025, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ – Công an huyện T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Quốc H1 (tên gọi khác: Bé); giới tính: Nam; sinh ngày 22/4/2008 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi thường trú: thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở: thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: không biết chữ; Con ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1985; Anh, chị, em ruột: có 05 người; Vợ, con: chưa có.
Tiền án: không; Tiền sự: không.
Bị cáo Nguyễn Quốc H1 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện đang tại ngoại ở thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người người đại diện của bị cáo Nguyễn Quốc H1: ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1979. Địa chỉ thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc H1: ông Nguyễn Trường D- trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (có mặt).
- Người bị hại: Nguyễn Văn M1, sinh năm 1949.
Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Lâm Thị T1, sinh năm 1964.
Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:
Vào khoảng 11 giờ 45 phút, ngày 17/08/2024, Nguyễn Chung T2 tại thôn T, xã P, huyện T mượn xe mô tô (loại Drem, không biển số) của 01 người tên V đi đến nhà của Nguyễn Quốc H1 trú tại thôn T, xã P, huyện T rủ H1 đi tìm kiếm tài sản để trộm cắp thì H1 đồng ý ngồi lên xe cho C chở đi. Khi đến trước nhà của ông Nguyễn Văn M1 thuộc thôn T, xã P thì C nhìn thấy 01 chiếc xe mô tô biển số 86K4-9175 dựng ở sân trước nhà, không có người trông coi nên C chở H1 đến vị trí cách nhà ông M1 khoảng 6 mét. H1 mở khóa xe và ngồi sẵn trên xe của C còn C đi bộ một mình đi đến xe của ông M1 dùng chân và tay đạp, bẻ khóa cổ lấy trộm xe mô tô biển số 86K4-9175 rồi ngồi lên xe dùng chân đẩy xe đến chỗ H1 đang chờ. C ngồi lên xe mô tô biển số 86K4-9175 điều khiển còn H1 điều khiển xe Dream đẩy xe mô tô vừa trộm cắp được đến khu vực cầu hầm chui ở thôn T, xã P thì C rút dây điện ổ khóa xe dùng chân đạp nổ xe mô tô 86K4-9175 nổ máy được.
Sau đó, C điều khiển xe Dream và H1 điều khiển xe mô tô biển số 86K4-9175 cùng nhau đi xuống thị trấn L để tìm người bán xe vừa trộm được. Đến khoảng 14 giờ 30 phút, khi đến khu vực đường đất gần nhà bà Lâm Thị T1 thuộc Khu phố A, thị trấn L thì C gặp bà T1 hỏi và gạ bán xe mô tô biển kiểm soát 86K4-9175 cho bà T1 với giá 500.000 đồng, bà T1 không biết là tài sản do trộm cắp mà có nên đã đồng ý mua. Số tiền bán xe có được C nạp 250.000 đồng vào game chơi chung với H1, C chia cho H1 40.000 đồng, còn lại 210.000 đồng C tiêu xài cho cá nhân hết.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 106/KL-HĐĐG ngày 25/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave a, màu xanh, biển số 86K4-9175 trị giá 13.700.000 đồng/chiếc × 30% = 4.110.000 đồng (Bốn triệu một trăm mười nghìn đồng).
Về tang vật chứng, trách nhiệm dân sự:Sau khi định giá tài sản, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả cho bị hại 01 xe mô tô biển kiểm soát 86K4-9175 cho bị hại là ông Nguyễn Văn M1, ông M1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Bà Lâm Thị T1 không yêu cầu các bị cáo Nguyễn C và Nguyễn Quốc H1 trả lại tiền mua nhầm tài sản trộm cắp và cho các bị cáo số tiền mua nhầm tài sản.
Tại bản Cáo trạng số: 24/CT-VKSTP-HS, ngày 24 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố các bị cáo Nguyễn Chung và Nguyễn Quốc Hùng về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
-Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng số: 24/CT-VKSTP-HS, ngày 24 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn C và Nguyễn Quốc H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h, o khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, khoản 1 Điều 50 ; khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Tổng hợp với hình phạt 01 năm 06 tháng tù tại Bản án số 150/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho 02 bản án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05 tháng 01 năm 2025.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, khoản 1 Điều 50; Điều 58; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H1 từ 09 tháng
đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc H1: thống nhất với tội danh và khung hình phạt Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố đối với bị cáo H1 và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị vì bị cáo là người chưa thành niên, thành khẩn khai báo, nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H1.
- Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, Kiểm sát viên:
Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin vắng mặt. Xét thấy, trong quá trình điều tra thì những người nêu trên đã có lời khai, yêu cầu rõ ràng đầy đủ tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của những người nêu trên không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[3] Về chứng cứ buộc tội các bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của các bị cáo như nội dung cáo trạng đã nêu, các bị cáo khẳng định những lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra vụ án là hoàn toàn tự nguyện, các bị cáo không bị bức cung và Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong truy tố các bị cáo là hoàn toàn đúng, không oan sai. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận vào khoảng 12 giờ 10 phút ngày 17 tháng 8 năm 2024 tại thôn T, xã P, huyện T bị cáo Nguyễn C và bị cáo Nguyễn Quốc H1 cùng nhau lén lút trộm cắp 01 xe mô tô biển kiểm soát 86K4-
9175 của ông Nguyễn Văn M1. Qua kết luận định giá tài sản bị chiếm đoạt của bị hại trị giá là 4.110.000 đồng (Bốn triệu một trăm mười nghìn đồng) đủ định lượng cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” nên các bị cáo Nguyễn C và bị cáo Nguyễn Quốc H1 phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Vụ án có đồng phạm, trong đó Nguyễn C vừa có vai trò là người xúi giục, vừa có vai trò là người thực hành tích cực còn Nguyễn Quốc H1 là đồng phạm với vai trò là người giúp sức đi trộm cắp tài sản nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi thực hiện phạm tội của mình.
Vì vậy, Cáo trạng số: 24/CT-VKSTP-HS, ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố các bị cáo Nguyễn C và Nguyễn Quốc H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội; Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
- Bị cáo Nguyễn C có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo rủ rê xúi giục bị cáo Nguyễn Quốc H1 là người chưa thành niên đi trộm cắp tài sản. Các bị cáo biết trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng với bản tính tham lam, muốn có tiền tiêu xài cho cá nhân mà không phải lao động nên các bị cáo lợi dụng sự sơ hở thiếu cảnh giác trong việc quản lý tài sản của chủ tài sản, các bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản là xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác. Hành vi của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xử lý nghiêm.
- Về tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Nguyễn C có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, cụ thể: bị cáo có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Ngoài ra, bị cáo C đã xúi giục bị cáo Nguyễn Quốc H1-là người dưới 18 tuổi phạm tội, do đó bị cáo C còn phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bị cáo Nguyễn Quốc H1 không có tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn C đã thành khẩn khai báo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần áp dụng khi xem xét lượng hình phạt đối với bị cáo C;
Bị cáo Nguyễn Quốc H1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
-Trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét cần cách ly bị cáo Nguyễn C khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo để bị cáo có thời gian rèn luyện bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội đồng thời nhằm để răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
Riêng đối với bị cáo Nguyễn Quốc H1. Xét thấy, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bản thân bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã có sự ăn năn hối cải về hành vi của mình do đó Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra đời sống xã hội mà để bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát của địa phương cũng đủ răn đe và giáo dục bị cáo. Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo Nguyễn Quốc H1 được hưởng án treo là phù hợp với quy định của pháp luật và đảm bảo nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại Điều 91 Bộ luật hình sự.
[5] Về tang vật chứng: Đã xử lý xong tại giai đoạn điều tra.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản. Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu các bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tại phiên tòa là có căn cứ đúng pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên q uan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
1. Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn C và Nguyễn Quốc H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h, o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; khoản 1 Điều 50; khoản 1 Điều 56 ; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn C 02 (hai) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 01 năm 06 tháng tù tại bản án số 150/2024/HS-ST ngày 11 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận. Buộc bị cáo Nguyễn C phải chấp hành hình phạt chung cho 02 bản án là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05 tháng 01 năm 2025.
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; khoản 1 Điều 50; Điều 58; Điều 65; khoản 1 Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H1 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng.
Giao bị cáo Nguyễn Quốc H1 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Quốc H1 có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
3. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn C và bị cáo Nguyễn Quốc H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Án xử công khai có mặt các bị cáo. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15 tháng 4 năm 2025).
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy
định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
(Đã giải thích chế độ án treo cho bị cáo Nguyễn Quốc H1)./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Hải Âu |
Bản án số 41/2025/HSST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG-TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 41/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG-TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn C và Nguyễn Quốc H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. 2. Xử phạt: - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h, o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; khoản 1 Điều 50; khoản 1 Điều 56 ; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn C 02 (hai) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 01 năm 06 tháng tù tại bản án số 150/2024/HS-ST ngày 11 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận. Buộc bị cáo Nguyễn C phải chấp hành hình phạt chung cho 02 bản án là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05 tháng 01 năm 2025. - Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; khoản 1 Điều 50; Điều 58; Điều 65; khoản 1 Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H1 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng. Giao bị cáo Nguyễn Quốc H1 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn Quốc H1 có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
