Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH PHỤ

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 41/2025/HS-ST

Ngày 10-4-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức - Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Diệu, bà Nguyễn Thị Hường.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Vũ Minh Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Viết Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2025 đối với:

Bị cáo Đỗ Trọng H; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không có tên gọi khác; sinh ngày 08/3/2002, tại huyện V, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn H, xã V (nay là xã V), huyện V, thành phố Hải Phòng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; bố đẻ: Đỗ Minh Đ, sinh năm 1977; mẹ đẻ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1984; vợ: Nguyễn Thu H1, sinh năm 2001; có 01 con, sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 24/12/2024 đến ngày 02/01/2025 chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Q - Trại tạm giam Công an tỉnh T.

- Bị hại: Bà Phạm Thị H2, sinh năm 1968 và ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1963; cùng nghề nghiệp: Lao động tự do; cùng cư trú tại Tổ A, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

- Người làm chứng:

Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1984; nơi cư trú: Khu B, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do;

Anh Nguyễn Huy D, sinh ngày 07/3/1987, thường trú tại thôn V, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nơi ở: Tổ G, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Đỗ Minh Đ, sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn H, xã V (nay là xã V), huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do;

Chị Nguyễn Thu H1, sinh ngày 14/5/2001, trú tại thôn H, xã V (nay là xã V), huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do;

Ông Nguyễn Văn T1, sinh ngày 20/11/1974, trú tại thôn Q, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do.

(Tại phiên tòa có mặt bị cáo; vắng mặt các bị hại, người làm chứng và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23/12/2024, bị cáo Đỗ Trọng H một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số đăng ký 16M7-7325 đi từ nhà đến huyện Q, tỉnh Thái Bình, mục đích tìm cửa hàng kinh doanh vàng bạc, vào giả vờ hỏi mua vàng rồi chiếm đoạt. Khi đi đến thị trấn A, huyện Q, H nhìn thấy cửa hàng vàng bạc Huệ Minh của gia đình bà Phạm Thị H2, ở Tổ A, thị trấn A, H để xe ở ngoài, đi vào bên trong cửa hàng gặp, hỏi mua của bà H2 02 chiếc nhẫn vàng, loại 0,5 chỉ/nhẫn, mục đích để thăm dò, quan sát, sau đó nói là chưa đủ tiền và rời khỏi cửa hàng. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày H quay lại cửa hàng vàng bạc Huệ M1, dựng xe ở vỉa hè và đi vào trong cửa hàng. Lúc này, bà H2 đang đứng phía trong dãy tủ quầy đựng vàng, bạc. Quan sát thấy trong cửa hàng không có khách, H nói với bà H2 “Cháu muốn mua 2 chiếc nhẫn loại 5 chỉ”, bà H2 mở tủ lấy 2 chiếc nhẫn vàng tròn trơn, mỗi chiếc có khối lượng 5 chỉ, mặt trong đều có ghi dòng chữ, số “9999_5 chỉ_Huệ Minh”, cho vào một chiếc hộp nhựa màu đỏ, nói giá 2 chiếc nhẫn là 84.700.000 đồng và đưa cho H. H cầm hộp nhựa đựng 2 chiếc nhẫn trên bỏ vào túi áo khoác bên phải đang mặc, giả vờ cầm điện thoại làm thao tác chuyển khoản ngân hàng và nói: “Cháu chuyển cho cô 80 triệu, còn 4.700.000 đồng, để cháu ra cốp xe lấy thêm tiền mặt gửi”. Bà H2 nói: “Ra ngoài thì để lại nhẫn” nhưng H vẫn chạy nhanh ra khỏi cửa, ngồi lên xe mô tô, nổ máy, điều khiển xe bỏ chạy. Bà H2 đuổi theo và truy hô: “Cướp, cướp”. Nghe bà H2 truy hô, ông Nguyễn Văn M, (chồng của bà H2) đang đứng ở gần cửa ra vào chạy ra dùng tay túm vào người H kéo lại, làm xe mô tô do H đang điều khiển bị đổ, H và ông M ngã ra đường. H bỏ xe lại, vùng dậy chạy ra đường QL10 về hướng Hải Phòng, bà H2 tiếp tục đuổi theo H, vừa hô hoán. Thấy vậy, anh Nguyễn Huy D, đang điều khiển xe mô tô trên đường QL10 đã vòng xe lại đuổi theo H đến sân vận động thị trấn A, Hoàng

trốn ở khu vực góc sân, anh D và bà H2 tìm nhưng không thấy nên đi về. Khoảng 15 phút sau, thấy trời đã tối, H đi ra đường QL10 thuê xe Taxi đi về khu vực bến xe V, thành phố Hải Phòng, H xuống và thuê xe Taxi khác để tránh bị phát hiện. H đem 02 chiếc nhẫn vừa lấy được đến cửa hàng vàng bạc “Nơ Lên”, của gia đình chị Nguyễn Thị N, ở Khu B, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng bán cho chị N được số tiền 82.300.000 đồng. Sau đó, H thuê xe Taxi đi đến huyện K, thành phố Hải Phòng chơi. Trên đường đi, H vứt bỏ chiếc hộp nhựa đựng nhẫn, khẩu trang và chiếc mũ bảo hiểm. Cùng ngày vụ việc xảy ra, bà H2 đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q trình báo và giao nộp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 16M7-7325, H để lại ở hiện trường. Ông Đỗ Minh Đ (bố của H) đã chuộc tại 02 chiếc nhẫn do H phạm tội mà có giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q quản lý để phục vụ việc điều tra, giải quyết vụ án. Ngày 24/12/2024, H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đầu thú.

Bản kết luận định giám định số 10239/KLGĐ ngày 30/12/2024 của V Bộ C kết luận: 02 chiếc nhẫn kim loại màu vàng, dạng tròn trơn, bên trong có dòng chữ số “9999”, “5 chỉ”, “Huệ Minh”, mỗi chiếc nhẫn có khối lượng 18,75 gam vàng (A), hàm lượng Au 99,95%.

Bản kết luận định giá tài sản số 54/KL-HĐĐGTS ngày 31/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Q kết luận: 01 chiếc nhẫn kim loại màu vàng, dạng tròn trơn, bên trong có các dòng chữ số “9999_5 chỉ_Huệ Minh” (ký hiệu M1), khối lượng 18,75 gam vàng (A), hàm lượng Au 99,95%, tại thời điểm ngày 23/12/2024 có trị giá 42.100.000 đồng; 01 chiếc nhẫn kim loại màu vàng, dạng tròn trơn, bên trong có các dòng chữ số “9999_5 chỉ_Huệ Minh” (ký hiệu M2), khối lượng 18,75 gam vàng (A), hàm lượng Au 99,95%, tại thời điểm ngày 23/12/2024 có trị giá 42.100.000 đồng. Tổng trị giá 2 chiếc nhẫn là 84.200.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 34/CT-VKSQP ngày 14/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo H về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo H đã khai nhận hành vi cướp giật tài sản vào ngày 23/12/2024, tại cửa hàng V1, ở Tổ A, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn, hối cải.
  • - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo H về tội “Cướp giật tài sản”; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo H từ 04 năm 09 tháng tù đến 05 năm tù; thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết; về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  • - Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo có lời nói sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo yên tâm cải tạo, hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội cướp giật tài sản vào ngày 23/12/2024. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát và còn được chứng minh bằng các tài liệu như: Biên bản quản lý tài liệu, đồ vật do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 18 giờ 40 phút, ngày 23/12/2024; Biên bản xác định hiện trường, kèm theo sơ đồ và bản ảnh hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 20 giờ 10 phút, ngày 23/12/2024; Biên bản làm việc do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 23 giờ 20 phút, ngày 23/12/2024; Bản kết luận giám định số 10239/KLGĐ ngày 30/12/2024 của V Bộ C; Bản kết luận định giá tài sản số 54/KL-HĐĐGTS ngày 31/12/2024 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q, cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 23/12/2024, tại cửa hàng V1 của gia đình bà Phạm Thị H2, ở Tổ A, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, bị cáo Đỗ Trọng H có hành vi hỏi mua 2 chiếc nhẫn vàng tròn trơn, mỗi chiếc 5 chỉ vàng 9999. Bà H2 đưa 2 chiếc nhẫn có đặc điểm trên cho H xem, thì H không thanh toán tiền cho bà H2 mà nhanh chóng chiếm đoạt bằng cách cầm bỏ vào trong vào túi áo khoác đang mặc rồi nhanh chóng chạy ra khỏi cửa hàng để tẩu thoát. Như vậy, bị cáo H đã chiếm đoạt của bà H2 2 chiếc nhẫn có tổng khối lượng là 37,50 gam vàng (A), hàm lượng vàng Au 99,95%, tại thời điểm chiếm đoạt có giá trị 84.200.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ.

Điều 171. Tội cướp giật tài sản

1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: ... c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật; đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội, tạo dư luận bất bình trong quần chúng Nhân dân nơi bị cáo phạm tội. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần phải lên một mức án phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời có tác dụng đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bản thân bị cáo có cụ ngoại Nguyễn Văn T2 là liệt sỹ. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về quyết định hình phạt: Từ những phân tích nêu trên, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như mức án đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và bảo đảm mục đích hình phạt nói chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Đối với 02 chiếc nhẫn vàng (A), loại 9999, khối lượng 5 chỉ/chiếc là tài sản của gia đình bà Phạm Thị H2, ngày 23/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình đã trả lại cho bà H2 theo quy định. Bà H2 đã nhận đủ tài sản và không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo. Vì vậy về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 16M7-7325, qua điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Văn T1 (bố vợ của H). Ông T1 cho Hoàng M2 sử dụng để đi làm hằng ngày, không biết bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội. Ngày 20/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã trả lại cho ông T1 là phù hợp.

Quá trình đuổi theo để ngăn chặn bị cáo H bỏ chạy, ông M ngã, bị thương phải điều trị tại Bệnh viện Q. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã ra quyết định trưng cầu giám định thương tích; quyết định dẫn giải và nhiều lần tiến hành việc dẫn giải, nhưng ông M kiên quyết từ chối việc dẫn giải, không đi giám định và không yêu cầu H phải bồi thường trách nhiệm dân sự đối với thương tích của ông, nên không đặt ra để giải quyết.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Trọng H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

    Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Trọng H 04 (bốn) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày tạm giữ (24/12/2024).

  2. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
  3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn, kể từ ngày tuyên án; các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn, kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Quỳnh Phụ;
  • - VKSND huyện Quỳnh Phụ;
  • - Bị cáo, bị hại, người có QLNV liên quan;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Minh Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HS-ST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (cướp giật tài sản)

  • Số bản án: 41/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp giật tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Trọng Hoàng cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger