|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 41/2025/HS-ST Ngày: 21/03/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Danh Hùng
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Anh và ông Nguyễn Văn Dũng
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà CaoThị Vân - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên toà: Bà Tăng Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 21/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu; Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2025/TLST - HS ngày 06/03/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61 /2024/QĐXXST – HS ngày 10 tháng 3 năm đối với các bị cáo:
Họ và tên: Trần Xuân T; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 17/3/1977; Giới tính: nam; Nơi cư trú: khối B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Trần Xuân L, sinh năm 1952; Họ tên mẹ: Lê Thị Mai H; sinh năm 1952; Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị G, sinh năm 1982; Con: có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: không
Nhân thân: Ngày 22/8/2014, bị TAND thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ” tại bản án số 653/2014/HSPT. Đã nộp xong tiền án phí HSST ngày 17/11/2014.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/11/2024 đến ngày 29/11/2024, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh. Có mặt tại phiên tòa.
Họ và tên: Phạm Văn N; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 02/7/1975; Giới tính: nam; Nơi sinh: huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm Đ, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Họ tên cha: Phạm N1, sinh năm 1950; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị L1; đã chết; Gia đình bị cáo có 11 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị V, sinh năm 1981; Con: có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/11/2024 đến ngày 29/11/2024, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1982 Trú tại: khối B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An – có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ ngày 22/11/2024, Phạm Văn N nhận được điện thoại của một phụ nữ tên Lê Thị H1, trú tại tỉnh Thừa Thiên Huế nói “Có con hàng thương em có lấy không?”, N hiểu ý H1 là có mua con tê tê bị thương không thì N nói “Chị gửi xe ra cho em em bán giúp cho” thì H1 đồng ý. Sau đó, N gọi điện cho Trần Xuân T nói “Có con hàng thương chú có lấy không thì sáng mai đến mà lấy” thi T đồng ý. Đến khoảng 02 giờ 45 phút ngày 23/11/2024, có số điện thoại của nhà xe gọi cho N hỏi xem nhận hàng ở đâu thì N trả lời nhận hàng ở trước cửa hàng “A Ngọ” thuộc xã D, huyện D. Sau đó, N đi đến quán A thì thấy có xe khách dừng bên đường. Nhất đến nhận 01 thùng cát tông dán kín rồi đưa về nhà. Về đến nhà, N mở thùng cát tông ra thì thấy có 01 con tê tê còn sống bị thương ở cổ và chân. Sau đó, N cất thùng cát tông chứa con tê tê ở phòng bếp. Đến 06 giờ15 phút cùng ngày, N gọi điện thoại cho T nói “Có con hàng thương rồi vào mà lấy”. Một lúc sau, T đi xe máy đến nhà N. Nhất dẫn T vào nhà bếp mở thùng cát tông cho T xem. Nhất báo giá con tê tê là 1.000.000 đồng/kg thì T đồng ý. Cả hai cân con tê tê thì được 6,9 kg, giá 6.900.000 đồng và thống nhất khi nào bán được thì mới trả tiền.T cho con tê tê vào bao tải và cất trong cốp xe máy rồi đi về nhà. Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày, Công an huyện D mời Trần Xuân T lên làm việc. Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên T đã đầu thú. Sau đó, Phạm Văn N cũng lên đầu thú.
Vào hồi 10 giờ 20 phút ngày 23/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D thi hành lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Trần Xuân T, thu giữ trong vườn nhà T 01 (một) lồng sắt, bên trong có 01 (một) cá thể động vật còn sống, nghi là con tê tê.
Tại bản kết luận số 2026/STTNSV ngày 25/11/2024 của V1 thuộc V2 kết luận: 01 (một) cá thể động vật còn sống trong bản ảnh gửi giám định là loài tê tê java có tên khoa học là M javanica.
Loài Tê tê java có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ. Loài Tê tê java có tên trong nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ. Loài Tê tê java có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ban hành kèm theo thông báo số 25/TB-CTVN ngày 17/02/2023 của Cơ quan quản lý C.
Tại bản cáo trạng số 66/CT-VKS-DC ngày 24/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An đã truy tố các bị cáo Trần Xuân T và Phạm Văn N về tội: “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm theo điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm a khản 1 điều 244; điểm s khoản 1, 2 điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Xuân T từ 18 đến 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 42 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn N từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Vật chứng vụ án:
- 01 (một) cá thể Tê tê java, còn sống, có trọng lượng 6,9 kg hiện đã được bàn giao cho Cơ sở bảo tồn động vật hoang dã Vườn Quốc gia P.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, Imeil: 356194446414972, Imei2: 356194446438179, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Xuân T và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, Imeil: 357332567270174, Imei2: 357332567770173, đã qua sử dụng, thu giữ của Phạm Văn N
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc lồng sắt đã qua sử dụng.
Trả lại cho chị Nguyễn Thị G 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Air Blade, màu đỏ, biển kiểm soát 37P4 – 7245, đã qua sử dụng.
Vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo đúng quy định.
Tại phiên tòa các bị cáo nhận tội, không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện D, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.
[2]. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố.
Xét lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 10 giờ 20 phút ngày 23/11/2024, tại nhà của Trần Xuân T ở khối B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Trần Xuân T đã có hành vi nhốt trái phép 01 cá thể Tê tê. Cá thể này, T mua của Phạm Văn N. Vì vậy, Phạm Văn N đồng phạm với Trần Xuân T về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự.
[3]. Về tính chất vụ án; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm, xâm phạm nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, gây ra những hậu quả nghiêm trọng khác cho đời sống xã hội. Các bị cáo thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ Tê tê – loại động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội.
- Tình tiết tăng nặng: không
- Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Trần Xuân T có bố đẻ được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì; sau khi phạm tội các bị cáo đã đầu thú nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự xử cho các bị cáo được hưởng án treo, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục để các bị cáo có cơ hội sữa chữa bản thân. Trần Xuân T có nhân thân xấu nên cần áp dụng mức hình phạt cao hơn để đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe của pháp luật.
Đối với người phụ nữ đã bán Tê tê cho N, do không có thông tin, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
[4]. Về hình phạt bổ sung: các bị cáo không có việc làm, không có tài sản nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[5]. Về vật chứng:
- 01 (một) cá thể Tê tê java, còn sống, có trọng lượng 6,9 kg. Cơ quan CSĐT Công an huyện D đã chuyển giao cho Vườn Quốc gia P, tỉnh Nghệ An để chăm sóc, cứu hộ, trả về tự nhiên theo Quyết định xử lý vật chứng số 18/QĐ-ĐCSKT-MT ngày 13/4/2023 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, Imeil: 356194446414972, Imei2: 356194446438179, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Xuân T và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, Imeil: 357332567270174, Imei2: 357332567770173, đã qua sử dụng, thu giữ của Phạm Văn N liên quan đến vụ án nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- 01 (một) chiếc lồng sắt không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Air Blade, màu đỏ, biển kiểm soát 37P4 – 7245 là tài sản chung của Trần Xuân T và vợ là chị Nguyễn Thị G, việc bị cáo sử dụng để vận chuyển tê tê chị Nguyễn Thị G không biết nên cần trả lại cho chị Nguyễn Thị G.
(Các vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo Phiếu nhập kho số 25NK085 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/02/2025)
[6]. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Xuân T và Phạm Văn N đều phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.
2. Về hình phạt: Căn cứ vào: điểm a khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điều 65 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: bị cáo Trần Xuân T 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn N 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
Giao bị cáo Trần Xuân T cho Ủy ban nhân dân (UBND) xã D, Giao bị cáo Phạm Văn N cho Ủy ban nhân dân (UBND) xã D, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình các bị cáo được hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục các bị cáo, thông báo kết quả chấp hành án của các bị cáo với UBND xã khi có yêu cầu. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, Imeil: 356194446414972, Imei2: 356194446438179, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Xuân T và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, Imeil: 357332567270174, Imei2: 357332567770173, đã qua sử dụng, thu giữ của Phạm Văn N.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc lồng sắt.
- Trả lại cho chị Nguyễn Thị G 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Air Blade, màu đỏ, biển kiểm soát 37P4 – 7245, đã qua sử dụng.
(Các vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo Phiếu nhập kho số 25NK085 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/02/2025)
4. Về án phí: Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc các bị cáo Trần Xuân T và Phạm Văn N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Danh Hùng |
Bản án số 41/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN về hình sự (vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm)
- Số bản án: 41/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cho hưởng án treo
